Yêu Văn Chương :")

Yêu Văn Chương :") Một cách mới để học Văn HIỆU QUẢ và biến facebook thành môi trường GIÁO DỤC lành mạnh trong sạch! Mọi thắc mắc xin liên hệ http://www.facebook.com/vanwaii?

Hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp của bạn :")
Chào đón mọi ý tưởng và bài cộng tác :")

07/08/2013

[ Giai thoại văn học : Nhân vật Chí Phèo] - Lưu Quốc Hòa

Những lần về làm báo ở Hòa Hậu Lý Nhân, được sự giúp đỡ của Đảng uỷ, UBND và ban văn hóa xã, đặc biệt là Nhà văn Trần Đức Mô (Từ Thiết Linh cháu Nam Cao hiện sống ở làng) Lưu Quốc Hòa đã có thời gian điền dã và hỏi chuyện nhiều già làng. Ông đang xây dựng tập sách nguyên cứu sưu tầm mang tên: "Nam Cao và những mạch nguồn hình tượng tác phẩm văn xuôi" căn cứ vào lời kể thực tế và qua tham khảo tư liệu, xin cung cấp một số tư liệu giai thoại văn học. Nhân vật Chí Phèo có bóng dáng ba người trong làng Đại Hoàng sống cùng thời để Nam Cao nhào nặn thành một

Người thứ Nhất: Làng Đại Hoàng trước những năm 40 có mộtngười đàn ông tên là Chí, không phải là người họ Trần ( Cả làng cùng một họ)mà là dân ở vùng khác xiêu bạt tới. Anh Chí mưu sinh bằng nghề mổ lợn thuê cho ông Trương Pháo và có nghề phụ là đòi nợ thuê. Làng Đại Hoàng lúc đó có năm phe phái kình địch nhau để chèn ép nông dân. Tuy là dân ngụ cư, nhưng anh Chí sống ngang tàng, hay rượu. Với nghề mổ lợn, anh có tài “bắt phèo”, chế biến món ruột non của lợn rất tài nên dân làng gọi anh là “Chí phèo”. Những năm đói 1944 – 1945, cả làng đói, không có ai thuê mổ lợn và đòi nợ, anh Chí cũng bỏ làng đi biệt tích.

Người thứ hai: Ngoài anh Chí ra còn có một người đàn ông khác nữa cũng là dân lưu tán, anh này không có nhà ở, sống ở một cái lò gạch cũ mưu sinh bằng nghề thả ống lươn và… ăn cướp. Cái lò gạch cũ, nơi anh trú ngụ là nơi đi qua thường xuyên của những người đàn bà đi chợ sớm buôn trầu vỏ sang cac chợ của vùng Nam Định. Một lần, anh ta hiếp dâm làm nhục một người đàn bà có chồng ở làng Đại Hoàng, người đàn bà này đã có bảy đứa con, bà này sau đó có sinh ra một người con. Sau vụ ấy, anh vừa kể cũng bỏ làng đi biệt tích, và người đàn bà kia vì xấu hổ cũng bỏ chồng con, bỏ làng đi xa. Họ đi đâu không ai rõ và cũng không ai quan tâm vì năm 1945, làng Đại Hoàng có 857 người, gần 30 gia đình chết đói bỏ làng đi biệt tích

Người thứ ba: Anh Chí trong tác phẩm của nhà văn lại có bóng dáng là một ông đi lính cho Pháp về làng. Ông này hay mặc áo tây vàng mất cúc, ngực có xăm ông tướng cầm chuỳ, hay nát rượu ở làng và không sợ phe cánh nào, ông này có vợ con đàng hoàng và hiện nay con cháu cũng đang sinh sống ở làng Đại Hoàng. Nhân vật này còn có bóng dáng nhiều tác phẩm truyện ngắn khác ( Trạch Văn Đoành)...Từ những nhân vật có thật ở làng mình, Nam Cao đã hư cấu và nhào nặn nên nhân vật Chí Phèo điển hình cho một nông dân tha hoá trong xã hội.

____ Ad Lô______

[ Chinh phụ ngâm và sự phá vỡ ranh giới giữa tự sự và trữ tình ]Ra đời vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, Chinh phụ ngâm đã g...
27/07/2013

[ Chinh phụ ngâm và sự phá vỡ ranh giới giữa tự sự và trữ tình ]

Ra đời vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, Chinh phụ ngâm đã ghi nhiều dấu ấn quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam. Sự xuất hiện của tác phẩm đã chính thức khai sinh một thể loại văn học dân tộc có tên là ngâm khúc và mở ra một thế kỉ “được mùa” của nhiều khúc ngâm có giá trị như Cung oán ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm, Tự tình khúc, Ai tư vãn, Bần nữ thán, Quả phụ ngâm…Tác phẩm cũng đã bứt mình ra khỏi dòng văn học chức năng, nặng về “tải đạo” “ngôn chí” của giai đoạn trước đó để nhập hẳn vào dòng văn học nghệ thuật, lấy việc phơi trải những xúc động tự tâm can làm mục đích chính. Nói về hoàn cảnh ra đời khúc ngâm, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí có viết “Vì đầu đời Cảnh Hưng (khoảng năm 1741-1742) có việc binh đao, cảnh biệt ly của người đi chinh thú khiến ông (tác giả Đặng Trần Côn) cảm xúc mà làm”(2). Cảm xúc là nguyên nhân khởi phát nên tác phẩm và cũng là hạt nhân của toàn bộ áng thơ trường thiên dài 408 câu thơ ấy. Đáng ghi nhận hơn, Chinh phụ ngâm đã “phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại Việt Nam” (3). Lí giải cho sự đề cao này, bên cạnh rất nhiều nguyên nhân như hình thức thơ song thất lục bát, kết cấu tâm trạng, lời văn trữ tình, vốn được nhiều nhà nghiên cứu bàn đến, xét thấy, cần phải nói đến sự xuất hiện của phương thức tự sự trong tác phẩm.

Tự sự đã tìm đường vượt qua ranh giới giữa tự sự và trữ tình để đi vào khúc ngâm ra sao? Nó đóng vai trò như thế nào trong nghệ thuật biểu hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình? Và ranh giới bị vượt qua ấy chỉ nên xem là sự xâm nhập hay là sự xóa nhòa giữa cả hai yếu tố? Đó là những vấn đề được đặt ra xem xét và giải quyết trong bài nghiên cứu nhỏ này[1].



1. Tự sự bước vào tác phẩm và xóa đi ranh giới giữa tự sự và trữ tình

Hẳn không còn là điều phải bàn khi xác nhận Chinh phụ ngâm là tác phẩm trữ tình. Toàn bộ khúc ngâm là sự giãi bày cảm xúc của người vợ có chồng đi lính xa nhà. Không quá để trao tặng cho Chinh phụ ngâm danh hiệu “quyển sách của nghìn tâm trạng” (4). Bởi lẽ, tác giả đã nhập vai vào người chinh phụ để bày tỏ muôn vạn những cung bậc, cảm xúc của người trong cuộc như buồn thương, oán trách, tiếc nuối, lo lắng, xót xa, nhớ nhung, mong ngóng, khát khao. . . Nếu Phan Ngọc xem những câu thơ trực tiếp phản ánh nội tâm trong Truyện Kiều chiếm 14.5% (gồm 474/3254 câu thơ) là một “tỉ lệ khủng khiếp” thì có lẽ con số này sẽ vượt qua rất nhiều sự tưởng tượng của ông khi tiếp cận với Chinh phụ ngâm. Sự thống kê 12 dạng cảm xúc của tác giả Thuần Phong (5) tuy khá rạch ròi và cụ thể song có lẽ vẫn chưa bao quát được hết thế giới nội tâm phong phú ấy. Hầu hết mỗi dòng trong tổng số 408 câu thơ của bản dịch đều không ít thì nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với tiếng nói bên trong của người thiếu phụ trẻ. Thêm vào đó, thể song thất lục bát như được sinh ra để trở thành hình thức chuyên dụng cho những áng thơ trữ tình trường thiên như Chinh phụ ngâm. Nếu như truyện thơ nhìn thấy ở lục bát khả năng kể chuyện, gắn với hàng loạt các sự kiện được diễn ra liên tục, nhanh chóng tạo nên các mối xung đột thì thể lục bát gián thất lại có “khả năng quý báu” trong việc biểu đạt nội dung trữ tình. Phan Ngọc đã chỉ ra tính nội dung có trong kết cấu khổ thơ 7-7-6-8 đó “Cần phải có hình thức ấy tình cảm mới có thể mang hình thức một đợt sóng đi lên với hai câu thất, dừng lại ở câu lục ngắn gọn để tỏa ra trong câu bát dài nhất rồi lại vươn lên trong một khổ mới, cứ thế đợt sóng tình cảm lên xuống ăn khớp với hình thức ngôn ngữ” (6). Thêm nữa, âm điệu song thất đều đều, trầm lặng, khổ thơ lặp lại mang tính chu kì với những vần lưng vần chân kết dính, vấn vít lẫn nhau đã trở thành ưu thế nổi bật diễn tả thứ tình cảm triền miên da diết của người chinh phụ. Chinh phụ ngâm vì thế đã tìm được một nội dung và hình thức đắc dụng để có mặt tự tin và chắc chắn vào thể loại trữ tình Việt Nam.

Thế nhưng, một bài toán đặt ra là làm thế nào tác giả có thể kéo dãn đến hàng trăm câu thơ chỉ duy nhất một mục đích phơi trải tâm trạng như thế? Làm cách nào để lôi cuốn người đọc và khẳng định sức sống của tác phẩm chỉ bằng thế giới tâm trạng tuy có phong phú song ít biến chuyển và phần lớn như đúc ra từ một khuôn tình cảm buồn rầu, đau khổ mà Đặng Thai Mai gọi đó là “sự ngưng đọng trên một khối sầu” (7)? Vấn đề sẽ được giải quyết khi chúng ta thấy được sự xuất hiện của yếu tố tự sự trong tác phẩm. Tự sự tìm đường đi vào khúc ngâm bằng sự có mặt của một số đặc điểm cấu thành thể loại này.

Đọc Chinh phụ ngâm, không quá khó để tìm ra yếu tố tự sự trong tác phẩm. Nhà giáo Lê Trí Viễn khi bắt đầu phân tích toàn bộ khúc ngâm cũng đã tóm tắt văn bản trong khoảng 20 dòng. Chỉ xét riêng về mặt hình thức chứ chưa bàn đến đến nội dung của bài tóm tắt, cũng thấy đây là công đoạn quen thuộc của những tác phẩm thuộc thể loại tự sự, thể loại có sự xuất hiện của cốt truyện cùng hệ thống các sự kiện. Chinh phụ ngâm giống như một câu chuyện kể về số phận bi thương của người chinh phụ. Tác phẩm cũng có thể chia làm ba phần với diễn tiến như sau: mở đầu là việc người chồng ra trận, tiếp đến là cảnh chờ đợi của người vợ trẻ và kết lại khúc ngâm là ngày người chồng trở về trong ngày vui chiến thắng. Sự kiện chính, được xem như biến cố của cuộc đời người chinh phụ là việc chồng ra chiến trận trong lúc cả hai người “tuổi đương chừng niên thiếu”. Tình yêu và hạnh phúc đang ở độ nồng nàn đắm say phải tạm chia lìa, đứt đoạn. Người chinh phụ bắt đầu bước vào một quãng đường dài của sự chờ đợi mỏi mòn vô vọng, mọi gắng gượng và nỗ lực xua đuổi nỗi buồn của nàng đều trở nên bất lực. Hàng loạt những sự việc được nói đến. Nàng gieo quẻ bói, đề chữ trên gấm, gượng đốt hương, gượng soi gương, tìm đến chồng qua những giấc mộng, cậy người gửi đến những kỉ vật yêu thương … nhưng tất cả chỉ là sự trống không, vô vọng “Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không”.

Trong Chinh phụ ngâm, yếu tố không gian và thời gian cũng không hề bị giới hạn hay đóng khung nhỏ hẹp như trong thơ trữ tình. Có thể so sánh khúc ngâm với bài thơ cùng tên của Thái Thuận ở thế kỉ XV. Thời gian trong thơ Thái Thuận là khoảnh khắc ngắn ngủi con người đối diện với lòng mình trong hiện tại. Trong khi đó, thời gian diễn ra trong khúc ngâm tương đối dài, dường như đi hết nửa đời người, từ quá khứ tiễn chồng ra trận đến hiện tại chờ đợi đến tuyệt vọng “Trải mấy xuân tin đi tin lại- Đến xuân này tin hãy vắng không”, “Tin thường lại người không thấy lại”. “Thư thường tới người không thấy tới”, “Kể năm đã ba tư cách diễn” “Tiền sen này đã nảy là ba”... Và không chỉ dừng lại ở hiện tại, khúc ngâm còn miêu tả thì tương lai, ngày người chồng trở về trong “Nền huân tước đai cân rạng vẻ- Chữ đồng hưu bia để nghìn đông”. Không gian trong tác phẩm cũng không phải toàn cố định và gói gọn trong cảnh “Rèm thưa lòng não trăng tàn bóng- Gối lạnh châu tràn cuốc gọi canh” (thơ Thái Thuận) mà có sự mở rộng và dịch chuyển liên tục. Từ không gian của buổi đưa tiễn đến không gian chiến trường “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo- Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”; từ không gian nơi miền quan ải đến không gian “trong cánh cửa”, “nơi cô phòng” lạnh lẽo, vắng lặng; từ không gian hiện thực đến không gian của những giấc mộng “Sum vầy mấy lúc tình cờ- Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân”, “Khi mơ những tiếc khi tàn- Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không”. Sự mở rộng thời gian và không gian ấy giúp tác phẩm có khả năng dung chứa và bao quát một mảng hiện thực rộng lớn từ cuộc sống, vốn là đặc điểm vẫn được nói đến trong thể loại tự sự.

Nhân vật trữ tình trong khúc ngâm cũng được miêu tả cụ thể qua rất nhiều những chi tiết bên ngoài lẫn bên trong. Chi tiết bên ngoài biểu hiện qua ngoại hình (trang phục, vật dụng đi kèm), dáng vẻ, cử chỉ, điệu bộ và việc làm, các mối quan hệ của nhân vật (đối với người chinh phụ đó là các mối quan hệ với vua, với chồng, với mẹ già và con thơ).... Chi tiết bên trong là những lời nói thầm kín của nhân vật vẫn thường được gọi là những lời độc thoại nội tâm. . .Sức nặng và sự đa dạng của các chi tiết được thể hiện khá rõ nét. Chỉ trừ những đoạn thơ miêu tả thiên nhiên và trực tiếp bộc lộ tâm trạng nhân vật (thường được đánh dấu bằng những từ chỉ cảm xúc), phần lớn yếu tố tự sự đều bàng bạc khắp tác phẩm. Có thể thấy rõ nhất qua hai đoạn mở đầu và kết thúc khúc ngâm, kể về buổi tiễn đưa và ngày chồng trở về trong chiến thắng.

Lấy ví dụ về đoạn mở đầu, gồm 12 khổ thơ song thất lục bát, từ “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt..Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà”. Sự kiện trung tâm được nói đến là người chồng ra trận. Môi trường và hoàn cảnh xuất hiện sự kiện được mô tả một cách tường tận và tỉ mỉ. Thời điểm xuất phát là “nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh”. Bối cảnh chung làm nền là cảnh binh lửa đầy ác liệt “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt- Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây”. Ở khoảng giữa của bức tranh ấy là cảnh đưa tiễn cũng được dựng lên cụ thể với những hình ảnh (hàng cờ bay trong bóng phất phơ) âm thanh (tiếng trống, tiếng nhạc ngựa, tiếng địch đồng vọng), màu sắc (sắc xanh của cỏ non và trắng trong của dòng nước)... Trong cảnh chia ly, ta thấy sự xuất hiện hai nhân vật chính. Người chinh phu được miêu tả từ hoàn cảnh xuất thân “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt- Xếp bút nghiêng theo việc đao cung”, trang phục ngoại hình “Áo chàng đỏ tựa ráng pha- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in” đến ý chí giết giặc lập công “Thành liền mong tiến bệ rồng- Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời”. Người chinh phụ được nói đến những sự bịn rịn, quyến luyến không rời “Nhủ rồi tay lại cầm tay- Bước đi một bước dây dây lại dừng”, với những lời nói thầm thì của chính lòng mình “Đưa chàng lòng dặc dặc buồn- Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền” … Các sự kiện được tiếp nối theo trật tự tuyến tính của thời gian, từ lúc chia tay bùi ngùi xúc động đến giờ phút chia tay đã điểm “Quân đưa chàng ruổi lên đường- Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng”. Và đến điểm kết của cuộc tiễn đưa đó chỉ còn là “Dấu chàng theo lớp mây đưa- Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà”…. Trong dung lượng 48 câu thơ biết bao nhiêu chi tiết được nói đến, giúp ta hình dung từ bao quát đến cận cảnh không- thời gian của buổi chia ly, khí thế hừng hực của chàng tuổi trẻ “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” và tình cảm nhuốm màu sầu muộn của người chinh phụ ….

Từ đó có thể thấy lằn ranh giữa tự sự và trữ tình không phải là một bức tường kiên cố không thể vượt qua. Tự sự có thể đi vào khúc ngâm và xóa đi khoảng ngăn cách tưởng chừng không thể tiệm cận giữa hai thể loại. Khả năng hòa phối và chung sống hòa bình giữa chúng có cơ sở để lý giải. Truyền thống của thơ ca trung đại Việt Nam thường là chủ thể trữ tình thường tường thuật, kể lại, nói lên nỗi lòng, chí hướng và tâm tình của mình. Đó là cội nguồn cho sự xuất hiện hàng loạt bài thơ có các tiêu đề như Ngôn hoài, Thuật hoài, Ngôn chí, Tự tình, Tự thuật, Mạn thuật, Trần tình. . .trong đó yếu tố đầu tiên được xem là cách thức trữ tình (“thuật” “tự” là kể, “ngôn” là nói ra, “trần” là bày tỏ), yếu tố thứ hai thường là nội dung trữ tình (tình, hoài, chí. . .) (8). Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai gọi đó là “văn chương tự tình”, xem như một cách đối lập với “văn chương trữ tình” (có sự thể nghiệm trực tiếp cảm xúc và nói lên cá tính sáng tạo của tác giả) và “văn tự sự” (9). Tự thấy rằng, bản thân cách gọi đó đã hàm chứa và mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của yếu tố tự sự trong những tác phẩm. Muốn giãi bày thổ lộ tình cảm không có con đường nào khác ngoài việc phải kể ra, thuật lại những sự việc liên quan đến tình cảm ấy; những “hỉ nộ ái ố” của con người là vì đâu, do đâu; hay những hoàn cảnh, trạng huống và sự kiện nào làm nảy sinh mối tâm tình đó. Nếu ví sự trần thuật đó như một cái cây thì “tình” chính là ngọn được sinh ra trên gốc là “sự”, “việc”. Chính “sự”, “việc” trở thành nguồn cội để nói đến “tình”, bày tỏ “tình”. “Thơ ca ra đời cũng chính từ sự rung động của tình trước cảnh và sự” là vì vậy. (Lê Qúy Đôn). Thật khó để hình dung những trạng thái cảm xúc vốn mơ hồ, bất định được nói ra một cách vô tận mà không có chỗ neo bám thật cụ thể nào. Vì thế trong trữ tình ít nhiều có sự tham dự của yếu tố tự sự và đường biên giới giữa chúng đôi khi có thể vượt qua. Chinh phụ ngâm cũng nằm trong truyền thống đó. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã rất có lý khi đưa ra nhận định “ (Nhân vật trữ tình) chủ yếu chỉ cho người khác thấy trạng thái tình cảm của mình, lối trữ tình nghiêng về kể, thuật, tự những kết quả bề ngoài của đời sống nội tâm chứ không phải là bản thân nội tâm” (10). Đồng thời cũng mở ngoặc đơn để nói thêm rằng, việc đưa yếu tố tự sự vào thơ cũng là gợi ý để sáng tạo nên những thể loại mới, khi tự sự và trữ tình có chức năng ngang quyền nhau thì thể loại trường ca ra đời, khi tự sự đóng vai trò trung tâm và trữ tình chỉ là yếu tố phụ được điểm qua thì truyện thơ xuất hiện (11). Sự gia giảm của yếu tố tự sự trong tác phẩm sẽ góp phần tạo nên những thể loại khác nhau như truyện thơ, ngâm khúc hay trường ca. . .Đó là nói đến khả năng dung chứa chất tự sự trong trữ tình.

Còn về phía tự sự, khả năng nào trong yếu tố này có thể hòa hợp cùng trữ tình? Ta thấy rằng, trong tự sự, khi xây dựng nhân vật không thể không nói đến hành động, đó có thể là hành động bên ngoài (như việc làm, thái độ, cách ứng xử. . .) nhưng cũng có thể là hành động bên trong (như ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc). Chính hành động mang tính nội tâm này làm nên màu sắc trữ tình trong tác phẩm tự sự. Nói khác đi, khi xây dựng nhân vật và muốn đạt đến khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn và chân thật, không thể không khắc họa và miêu tả tình cảm bên trong, những nung nấu, suy tư của chính nhân vật. Và đặc điểm này của tự sự vốn lại là đặc trưng cơ bản làm nên khúc ngâm. Trong Chinh phụ ngâm, nổi bật và xuyên suốt là lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Dù có khi người chinh phụ cũng hướng đến một đối tượng nào đó để tìm kiếm sự chia sẻ và thấu hiểu nhưng hoặc là nhân vật vô hình phiếm chỉ (trời), hoặc là nhân vật lặng im không thể nói (thiên nhiên), cuộc đối thoại không thể thực hiện được. Con người chỉ còn biết cô độc đối diện với bóng, với ngọn đèn tàn và tự thầm thì với chính mình những nỗi niềm bi thiết. Thế giới nội cảm của nhân vật từ đó được bộc lộ. Chính từ đặc điểm đó mà cả hai thể loại có thể tìm kiếm sự gắn kết để xích lại gần nhau.



2. Sự phá vỡ lằn ranh giữa tự sự và trữ tình nhằm phát huy tối đa khả năng biểu hiện tâm trạng của thể loại trữ tình

Trên đây đã nói đến sự xuất hiện của yếu tố tự sự và sự phá vỡ lằn ranh giữa tự sự và trữ tình trong Chinh phụ ngâm. Tuy nhiên, sự phá vỡ này chưa đi đến mức độ xâm lấn và xóa nhòa hoàn toàn cả hai yếu tố. Phải thấy rằng, tự sự tuy có đi vào phương thức trữ tình trong tác phẩm nhưng không vì thế nó thực hiện cuộc soán ngôi, đánh tan những phẩm chất trữ tình nhằm tạo nên một thể loại mới (thể thơ tự sự). Chức năng biểu hiện tình cảm vẫn là chức năng chuyên biệt và trung tâm của khúc ngâm. Mọi yếu tố tự sự được vận dụng trong tác phẩm đều nhằm hướng đến nội dung phơi trải tấm chân tình của người chinh phụ và phát huy tối đa chức năng đó. Nói đúng ra, tự sự dừng chân trong khúc ngâm chỉ như một sự xâm nhập của thể loại chứ chưa đến mức xóa nhòa ranh giới giữa tự sự và trữ tình.

Người chinh phụ tuy có hướng về quá khứ, kể về những gì đã xảy ra nhưng tất cả những sự việc hiện hữu đó đều nằm trong sự hồi tưởng, kí ức của nàng. Tương lai được nói đến cũng chỉ là những mơ tưởng, những mong mỏi mà nàng tự vẽ nên trong tâm trí. Vì thế trung tâm của tác phẩm vẫn là quãng thời gian hiện tại, lúc con người đối diện với chính lòng mình, đang tự “độc bạch” (10). Hơn thế, những xúc động trữ tình của con người trong hiện tại cũng phủ lên các sự kiện của quá khứ và tương lai một tấm màn cảm xúc để chúng hiện lên như một quá trình đương xảy ra với những hình thái sống động và tươi mới nhất. Thêm vào đó, việc nhân vật được đặt trên cả ba chiều thời gian quá khứ- hiện tại- tương lai, cũng chỉ là cách khắc họa bi kịch trong cuộc đời người chinh phụ. Sống trong hiện tại nhưng luôn tìm cách trở ngược về quá khứ, sống lại với thực tại của quá khứ những kỉ niệm đẹp của tuổi trẻ, của tình yêu và hạnh phúc. Còn hiện tại và tương lai tuy là đời sống thực và sắp hướng đến nhưng nó không phải là những phiến đoạn của thời gian mà nàng muốn đối diện, bởi lẽ ở đó chỉ có sự ngự trị của khổ đau và vô vọng. Người chinh phụ lần lượt thực hiện các cuộc đối thoại với chính mình trên cả ba chiều của thời gian để rồi đau đớn nhận ra những gì tốt đẹp nhất không còn có thể trở lại. Nỗi buồn- cảm xúc trữ tình của bài thơ vì thế càng thấm đẫm. Và cũng từ đó chủ đề của khúc ngâm cũng được lộ rõ: đó là niềm bi cảm về những giá trị nhân sinh bị đánh mất.

Không gian được nới rộng đến mọi chiều kích cũng chỉ nhằm đi vào chiều sâu tâm trạng của người chinh phụ. Không gian ngoài biên ải xa xôi, không gian những giấc mộng hay không gian ngày trở về đều là không gian của sự tưởng tượng. Nó không thể tìm thấy giữa cuộc đời thực mà chỉ tồn tại trong dòng tâm tưởng miên man bất tận của nhân vật trữ tình. Nếu không có khung cảnh chiến địa nặng mùi tử khí và vất vưởng của những oan hồn, ta không thể nào thấu hiểu cùng một lúc rất nhiều tâm trạng đan xen trong lòng người chinh phụ. Đó là nỗi xót xa cho tình cảnh của chồng “Xót người lần lữa ải xa- Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài” “Xót người hành dịch bấy nay- Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi”. Là sự cảm thương cho tình cảnh lẻ loi đơn chiếc của chính mình “Nỡ nào đôi lứa thiếu niên- Quan san để cách hàn huyên bao đành” “Cớ sao cách trở nước non- Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu”. Và đó cũng là hoàn cảnh để tạo nên sự chuyển biến về mặt nhận thức và tình cảm của người phụ nữ quý tộc “Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu- Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong”… Không gian của những giấc mộng cũng vậy, nó giúp người đọc khám phá tầng sâu kín nhất trong nỗi lòng người chinh phụ. Những ước ao, mong muốn thầm kín, riêng tư “chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay”, con người thường cất giấu trong những giấc mơ. Và nàng chinh phụ cũng vậy. Trong không gian “Bui còn hồn mộng được gần- Đêm đêm thường tới Giang Tân tìm người”, phần nào người đọc có thể giải mã tiếng nói nồng đượm thiết tha của nàng về một cuộc sống ái ân hạnh phúc. Hiện thực không được như mong ước khiến nàng tìm vào trong những giấc mộng. Và chỉ có khoảng thời gian cuối cùng của một ngày, lúc đêm tối, khi con người dễ sinh mộng mị, nàng mới có thể gặp mặt người thương để thỏa lòng mong ước, khát khao…Từ đó cho thấy, mọi không gian dù hướng đến mọi chiều kích nào cũng đều quay về cái tâm duy nhất là khát khao hạnh phúc lứa đôi của người thiếu phụ. Nhìn chung, mượn đặc điểm trong tác phẩm tự sự, nhân vật được miêu tả trên cả ba chiều thời gian, được đặt vào rất nhiều không gian khác nhau nhưng khúc ngâm nhằm khái quát nên một hiện thực lớn của đời sống, đó chính là hiện thực tâm trạng.

Như trên đã nói, khúc ngâm trữ tình rất giàu các chi tiết về những biểu hiện bề ngoài của nhân vật. Thế nhưng, các chi tiết ấy cũng không nằm ngoài chức năng duy nhất biểu đạt là tâm trạng của con người. Sự kiện “người chồng ra trận” chỉ đóng vai trò như một điểm tựa, một chỗ dựa vững chắc để khơi nguồn dòng chảy cảm xúc vốn chiếm dung lượng rất lớn trong tác phẩm. Mọi chi tiết tự sự khác được nói đến cũng cùng chung một mục đích đó. Sự xuất hiện của yếu tố tự sự khá linh hoạt, và dù ở những vị trí nào nó cũng là cơ sở hạ tầng nhằm xây nên kiến trúc thượng tầng là những trạng thái tình cảm của người chinh phụ. Có khi trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm của nhân vật, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm sóng đôi cùng sự việc ấy:

Hương gượng đốt, hồn đà mê mải

Hương gượng soi, lệ lại chan chan

Hoặc ngược lại:

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp

Xin vì chàng giũ lớp phong sương

Vì chàng tay chúc chén vàng

Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng

Trong cùng khổ thơ, câu đầu hoặc cả hai câu đầu nêu sự việc như là một nguyên cớ và các câu còn lại là kết quả tâm trạng và ngược lại, có khi chính tâm trạng là cội nguồn của những biểu hiện về dáng điệu, cử chỉ, hành động bên ngoài ấy :

Tin thường lại người không thấy lại

Hoa dương tàn đã trải rêu xanh

Rêu xanh mấy lớp chung quanh

Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ

Hay

Há như ai hồn say bóng lẫn

Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không

Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng

Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo

Có khi luân phiên nhau, một khổ thơ nói đến sự việc, khổ tiếp theo là sự bày tỏ tâm trạng:

Trải mấy xuân tin đi tin lại

Đến xuân này tin hãy vắng không

Thấy nhàn luống tưởng thu phong

Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng

Gió tây nổi, không đường hồng tiện

Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa

Màn mưa trướng tuyết xông pha

Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài

Và cũng có khi, liên tiếp những khổ thơ chỉ toàn là những chi tiết bề bộn như một sự kể lể, không có dấu hiệu nào gắn với tình cảm khiến người đọc vội lầm tưởng là một đoạn thơ tự sự như:

Tình gia thất nào ai chẳng có

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương!

Mẹ già phơ phất mái sương

Con thơ măng sữa vả đương phù trì

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân

Khổ thơ như đang kể lại hoàn cảnh gia đình của người chinh phụ. Trong vai trò là người khuê phụ thay chồng chăm sóc mẹ già và nuôi dưỡng con thơ, nàng hiện lên như một con người của bổn phận, trách nhiệm, hơn là con người của tâm trạng. Dấu vết của cảm xúc như không hề có mặt trong từng câu thơ. Nhưng không hoàn toàn như vậy. Bề sâu của những dòng thơ tưởng là tự sự ấy là nỗi niềm của người chinh phụ về tình cảnh đơn chiếc đáng thương của mình. Một thân “nuôi già dạy trẻ” càng giúp nàng thức nhận rõ hơn nỗi buồn cô đơn, lẻ loi của chính mình, từ đó dẫn dắt cho nỗi nhớ đến người ngoài biên ải. Khổ thơ tiếp theo là sự minh họa cụ thể cho bề sâu của tâm trạng ấy:

Nay một thân nuôi già dạy trẻ

Nỗi quan hoài mang mể biết bao!

Nhớ chàng trải mây sương sao

Xuân từng đổi mới, đông nào có dư

Khái quát lại, có thể thấy, mọi chi tiết tự sự được sử dụng đều hướng đến nội dung trữ tình được nói đến trong tác phẩm. Và không chỉ đơn giản như một yếu tố phụ có vai trò làm phông, nền cho tâm trạng mà tự sự đóng vai trò tối quan trọng. Không có nó, tâm trạng nhân vật sẽ thiếu đi một bệ đỡ, một điểm tựa để ra đời và phát triển. Dòng tâm trạng của nhân vật cũng vì thế mà không thể trôi chảy tự nhiên, thuận lợi và dễ dàng trong chiều dài 408 câu thơ.. Và một điều quan trọng hơn, sự có mặt của yếu tố tự sự sẽ giúp tâm trạng nhân vật được “lạ hóa”, không gây cảm giác nhàm chán và tẻ nhạt cho người tiếp nhận. Vì sao lại nhận định như vậy? Có thể thấy, tâm trạng nhân vật tuy có rất nhiều sắc thái khác nhau nhưng đều đồng quy từ một chữ buồn nên ít nhiều nó có sự lặp lại. Tuy rằng sự lặp lại này cũng nằm trong dụng ý của khúc ngâm là triển khai đến mức tối đa sự trì trệ, ứ đọng, không gì giải tỏa và vượt thoát được của tình cảm, nhưng nó rất dễ gây mất hứng thú cho người đọc. Vì thế việc đưa vào chi tiết về việc làm, hành động của nhân vật sẽ nhằm đổi khẩu vị thưởng thức cho độc giả, khiến họ tưởng chừng như diện kiến một gương mặt cảm xúc mới. Chẳng hạn như, cùng viết về tâm trạng thẩn thờ, mệt mỏi đến quên cả dung nhan của người chinh phụ, khúc ngâm xuất hiện ba khổ thơ khác nhau, mà mỗi khổ là những biểu hiện bề ngoài không hề có sự lặp lại:

Người chinh phụ hết mở lại đóng chiếc gấm thêu chữ, nửa tin nửa ngờ quẻ bói báo điềm gở khiến nàng đau khổ, mệt mỏi đến mức “ngẩn ngơ”, “bơ phờ”:



Để chữ gấm phong thôi lại mở

Gieo bói tiền tin dở còn ngờ

Trời hôm tựa cửa ngẩn ngơ

Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai

Việc cài trâm, giắt xiêm cũng trở nên uể oải, chán nản:

Há như ai hồn say bóng lẫn

Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không

Trâm cài xiêm giắt thẹn thùng

Lệch vừng tóc rối lỏng vòng lưng eo

Và cũng là tâm trạng “ngẩn ngơ” đó, nàng như trở nên vô hồn, bất động, không muốn làm bất cứ việc gì chỉ trừ duy nhất việc lặp đi lặp lại hành động quen thuộc hàng ngày “sớm lại chiều dòi dõi nương song”:

Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói

Sớm lại chiều dòi dõi nương song

Nương song luống ngẩn ngơ lòng

Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?

Thử hình dung, nếu không chêm xen vào dòng chảy tình cảm ấy những khúc đoạn mang dấu vết của tự sự thì các đoạn thơ chỉ như sự lặp lại một cách vụng về tâm trạng “thẫn thờ” “ngơ ngẩn” của nhân vật. Chính yếu tố tự sự giúp cho tác phẩm vừa có sự lặp lại cần thiết của tâm trạng buồn vừa có sự chuyển biến để sinh sắc thêm cho cái tâm trạng đã được nói đến ấy. Hai đặc điểm tưởng chừng đối lập nhưng chính nó tạo nên cái đặc sắc và dấu ấn của khúc ngâm.

Như vậy là, bằng việc chỉ ra tính chất ranh giới của hai yếu tố tự sự và trữ tình trong các khúc ngâm, chúng ta cũng thấy được tầm quan trọng của sự xuất hiện yếu tố tự sự. Nó tựa như cái khung, bệ đỡ để vừa dẫn dắt cảm xúc của chủ thể trữ tình vừa để cảm xúc đó tuy chỉ trôi giữa hai bờ buồn thương cũng không quá nhàm chán và lặp lại. Sự hiện diện của yếu tố tự sự còn là điều kiện để kéo dài quy mô trường thiên của tác phẩm và quan trọng hơn làm bật lên nội dung cốt lõi trong các khúc ngâm. Những hoàn cảnh của nhân vật trong những thời điểm khác nhau của cuộc đời đã giúp nhân vật có sự đối chiếu cảm xúc để nhận ra những giá trị đã mất, nỗi buồn vì thế được bật ra và thấm đẫm toàn bộ nội dung của tác phẩm.

Tự sự và trữ tình là hai phương thức tái hiện đời sống khác nhau. Sự khác nhau đó đã vạch ra đường ranh tưởng chừng không thể bước qua của thể loại. Nhưng đến với khúc ngâm, cụ thể trong Chinh phụ ngâm khúc, ranh giới này đã bị phá vỡ nhằm đạt đến hiệu quả nghệ thuật to lớn của tác phẩm. Chính việc “kể lể tình cảm” đã tạo khả năng cho áng thơ trữ tình này có thể kéo dài đến 408 câu thơ và diễn đạt một cách dễ dàng, thuận lợi những “cung bậc cảm xúc luôn ngưng đọng trên một khối sầu”(12). Lịch sử nghiên cứu nghệ thuật tả tình trong các khúc ngâm có thể một biểu hiện quan trọng nữa. Và có thể không khi xem đây là những tiền đề cho thơ ca lãng mạn giai đoạn sau trong việc biểu hiện thế giới tâm trạng của con người và sự ra đời của những truyện ngắn không có cốt truyện, chỉ duy có dòng cảm xúc tâm trạng của con người?

_____ Ad Lô ___

27/07/2013

[ Dấu hiệu " Xung đột trường phái" trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi ]

Về hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) trong đó có cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, tư liệu hiện còn lại chỉ là bài tường thuật đăng trên tạp chí Văn nghệsố kép 17-18, cũng gọi là số tranh luận (tháng 11&12/1949). Một buổi chiều tranh luận (thời gian dành cho tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi: chiều 28/9/1949) được đăng tải trên 14 trang tạp chí (khoảng 5 ngàn chữ) cho thấy tường thuật khá kỹ lưỡng.(1)

Đối tượng tranh luận là thơ của Nguyễn Đình Thi thời đầu kháng chiến, nói rõ hơn là “thơ không vần” mà những bài được nhắc đến là: Đêm mít tinh, Sáng mát trong…, Không nói, Đường núi, Khúc hát miền Tây. Trong thành phần tham gia thảo luận, bên cạnh “khổ chủ” Nguyễn Đình Thi chỉ có một số rất ít người đứng về phía ông: đó là Văn Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng. Đoạn tường thuật ngắn của Nguyễn Huy Tưởng phác hoạ:

“Trong một góc tối, đầu cúi xuống cuốn sổ tay nhỏ bên cạnh Văn Cao và Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi ghi những lời phê bình của anh chị em về trường hợp thơ anh”. (Văn nghệ, s. 17&18, tr.34) (2)

Những người đứng về phía “chống” lại thơ Nguyễn Đình Thi gồm hầu hết số còn lại: Xuân Diệu trình bày đề dẫn và phát biểu thêm 2 lần nữa; Thanh Tịnh phát biểu 2 lần; Ngô Tất Tố – 3 lần; Thế Lữ – 4 lần; Tố Hữu phát biểu 1 lần, cuối cùng thêm lần phát biểu tổng kết; Xuân Thuỷ – 1 lần; Phạm Văn Khoa – 1 lần; Nguyễn Xuân Khoát – 1 lần; Tâm Trung – 1 lần; Phan Thị Nga – 2 lần; Hữu Tâm – 1 lần (bài tường thuật cho biết đây là nhà thơ trẻ của Trung đoàn thủ đô); Xuân Trường – 1 lần.



Đọc lại biên bản tranh luận , có thể nhận ra hai loại xung đột về xu hướng nghệ thuật mà thơ Nguyễn Đình Thi lúc ấy phải đương đầu.



Thứ nhất là xung đột giữa thơ Nguyễn Đình Thi hồi này với chủ trương “đại chúng hoá”, một trong những chủ trương được đề ra cho văn nghệ kháng chiến. Hầu hết các ý kiến phản đối đều lấy tính dễ hiểu, nhất là dễ hiểu cho quần chúng công nông binh đông đảo, làm tiêu chuẩn và căn cứ để phê phán. Trong lời kết của Chủ tịch đoàn, Tố Hữu nói: “Nhiều khi thấy bài thơ hay mà chưa chắc nó đã hay(…) Tôi không thể lấy cái “ta” làm tiêu chuẩn. Người nghệ sĩ phải tự hỏi : quần chúng xem bài này thế nào? quần chúng có xúc cảm không?”(Văn nghệ số dẫn trên, tr.56). Cái “ta” Tố Hữu nói ở đây chính là trỏ cái “tôi” trữ tình; lúc này cái “tôi” ấy bị gạt sang một bên; yêu cầu văn nghệ phải dễ hiểu đối với đại chúng ít học là một trong những yêu cầu hàng đầu được nêu ra từ phía chỉ huy cuộc kháng chiến.



Tuy nhiên, bên cạnh xung đột nêu trên, ở cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi còn bộc lộ dấu hiệu về một xung đột khác nữa; ở đây kiểu thơ do Nguyễn Đình Thi đề xuất vấp phải sự phản kháng quyết liệt của các chuẩn “thơ mới”(1932-45) mà những đại diện lên tiếng ở đây là Xuân Diệu, Thế Lữ, Thanh Tịnh.



Những nhận xét phê phán của Xuân Diệu cho thấy, tuy có đôi chỗ ông muốn nhân danh “nghệ thuật dân chủ mới”, nhưng trên thực tế, ông chủ yếu đứng trên lập trường của thơ mới 1932-45: chính là với những chuẩn mực nghệ thuật thơ mà bằng vào đó, Xuân Diệu đã đạt được thành công lớn hồi giữa những năm 1930. Giờ đây, vào cuối những năm 1940, Xuân Diệu dị ứng gay gắt với một hiện tượng vượt ra ngoài các chuẩn mực ấy. Ông nêu hai đặc điểm của thơ Nguyễn Đình Thi : 1) không vần; 2) câu thơ dài ngắn tự do. Xuân Diệu cho các ý trong các bài thơ Đêm mit tinh, Sáng mát trong…là “đầu ngô mình sở (incohérance)”: “các đoạn trong tứ thơ không dính nhau”… “không hiểu sao đang đêm mit tinh lại nói đến nhớ Hà Nội”. Theo quan niệm của Xuân Diệu, “phải làm sao người ta thấy ý này bắt sang ý kia là tự nhiên”. Ông đòi hỏi “ý tình phải quấn quýt lấy nhau theo một sự hợp lý nào đó”. Chính vì thế ông cho rằng trong các bài thơ của Nguyễn Đình Thi có những đoạn những câu mà “không có ở trong bài cũng không sao”, ví dụ ba câu đầu trong bài Sáng mát trong…( Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới / Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em ). ở trường hợp bài Đường núi, có lẽ vì không thể bảo câu nào là “thừa”, nhưng tất cả dưới mắt Xuân Diệu đều dường như không dính nhau, ông đành nêu nhận xét phủ định này: “những nét thơ rất đẹp nhưng chỗ này một nét, chỗ kia một nét, tán loạn như trong một bức tranh siêu thực” (chỉ cần bỏ thái độ phủ định đi thì đây hoàn toàn là một nhận xét xuất sắc). ở phần nhận xét về hình thức, Xuân Diệu nêu ba điểm: một là “câu thơ anh Thi đúc quá. Anh Thi rất tiết kiệm chữ… nhưng lại tiết kiệm quá. Không những không có chữ thừa mà chữ đệm cũng không có. Không những đúc trong một câu mà còn đúc cả đoạn nữa”. Xuân Diệu chủ trương lời thơ chỉ nên cô đúc một cách vừa phải, trung bình: “Sự tiết kiệm chữ và tiết kiệm lời (…) phải đến cái trình độ thích trung (…). Nếu đúc quá, độc giả không theo kịp được, thì cũng không còn là thơ nữa”. Hai là, về chuyện vần hay không vần, tuy Xuân Diệu nói đây không phải vấn đề của thơ Nguyễn Đình Thi, nhưng những biện luận dài của Xuân Diệu cho thấy ông chủ trương thơ phải có vần, ông nhấn mạnh rất nhiều lợi ích của vần (a/ vần như chỗ nghỉ hơi; b/ giữ vần được xem như chỗ để “hồn thơ tựa vào câu thơ một cách vững chắc”; c/ vần giúp công chúng và tác giả nhớ thuộc; d/ vần gắn với thói quen của của quần chúng, với tập quán tiếng Việt). Ba là, Xuân Diệu thấy “rất khó chấm câu” cho thơ Nguyễn Đình Thi, “vì câu này tràn sang câu kia. Không biết chấm thế nào cho đúng”. Xuân Diệu chủ trương “phải giữ chấm câu” với nhiều lợi ích của nó, theo quan niệm của ông (quan niệm này Xuân Diệu giữ đến tận cuối đời).

Như vậy, trong các nhận xét của mình, Xuân Diệu đã đối chiếu các đặc điểm thi pháp của Nguyễn Đình Thi với các chuẩn nghệ thuật của “thơ mới”, trước hết là những chuẩn mà chính Xuân Diệu đã quan niệm và tuân thủ. Những đối chiếu này làm nổi bật những nét khác biệt, đổi mới của thơ Nguyễn Đình Thi. Song những đổi mới ấy lại bị Xuân Diệu xem như những hiện tượng “phạm quy”, “phạm luật” trong sự sáng tác, nên ông không thể thừa nhận.



Về ý kiến Thế Lữ, đoạn tường thuật ngắn của Nguyễn Huy Tưởng cho biết từ trước khi có cuộc tranh luận chiều 28/9/1949, “anh (tức Thế Lữ) đã nhiều lần tranh luận về thơ với Nguyễn Đình Thi, cãi nhau đã lắm mà chưa ngã ngũ ra sao”. Tại cuộc tranh luận, Thế Lữ phát biểu tới bốn lần. Ông xem thơ Nguyễn Đình Thi thời gian này như “là một cuộc thí nghiệm về thơ nói chung”, và tuy thừa nhận quyền thí nghiệm, ông vẫn đặt câu hỏi hoài nghi : “thơ không vần anh Thi làm nay đã là một môn phái chưa? ” Ông, giống như Xuân Diệu, cảm thấy kiểu thơ này “chung đúc quá, hà tiện lời quá”, tỏ ý tiếc cho những “câu nối” bị bỏ đi. Nhưng điều quan trọng hơn là Thế Lữ nhận thấy một nét khác : “Thơ anh Thi có dáng điệu kiêu căng, im lặng, không ghi rõ những điều mình rung động(…)Tôi ví anh Thi với người đạo sĩ nói lên những lời chỉ có những người đã tu luyện như mình mới hiểu được”. “Anh Thi chỉ để vào đấy những điều chỉ có riêng mình anh rung cảm”. “Thơ anh Thi có tính cách quý phái cao đạo”. Thế Lữ cảm thấy lo ngại vì Nguyễn Đình Thi “đã gieo rắc lối thơ của anh trong làng thơ”. Được Thanh Tịnh đồng tình (cho rằng lối thơ này có thể gây “loạn thơ”), Thế Lữ lên tiếng cảnh cáo: “Thơ anh Thi nguy hiểm, và còn là một cái nguy cơ. Các nghệ sĩ hay bám vào hình ảnh mới lạ, miễn là nó long lanh để đưa tâm hồn mình vào đấy. Đó là cái thú “vicieux”(bệnh tật) của nghệ sĩ.” Ngay sau khi hội nghị dành thời gian cho Nguyễn Đình Thi tự phê bình và tự biện hộ, trước khi Tố Hữu phát biểu kết luận, Thế Lữ còn lưu ý một lần nữa sự “nguy hiểm” nói trên và giữ lại cho mình sự hoài nghi đối với các lập luận “nội dung mới phải đi với hình thức mới” của Nguyễn Đình Thi.



Có thể nói, hơn hẳn một bậc so với Xuân Diệu, những nhận xét về hiện tượng thơ Nguyễn Đình Thi của Thế Lữ ở đây thực sự là những phán xét nghiệt ngã, riết róng đến mức bất công, tuy cả hai (Thế Lữ và Xuân Diệu) đều đứng trên lập trường các chuẩn mực của thơ mới 1932-45. Với phát biểu của Xuân Diệu, thơ mới 1932-45 chỉ “đánh dấu” và tỏ thái độ không chấp nhận những hiện tượng tìm tòi vượt ngoài giới hạn các chuẩn mực của mình. Với các phát biểu của Thế Lữ, thơ mới 1932-45– mà đại diện là một trong những thủ lĩnh danh tiếng của nó, — đã phản công quyết liệt đối với những tìm tòi ngoài giới hạn của mình. Phương tiện, căn cứ để công kích dĩ nhiên không chỉ là các chuẩn của thơ mới – giờ đây mặc nhiên đã được thừa nhận rộng rãi, — mà còn là các phương châm đặc hữu của văn nghệ kháng chiến (ví dụ Thanh Tịnh nói đã đưa thơ không vần của Nguyễn Đình Thi cho bộ đội đọc, thấy họ không thích vì trúc trắc, đưa cho trí thức đọc họ cũng không thích…).



Có thể nói, tại cuộc tranh luận này, chính các chuẩn mực của thơ mới 1932-45 được công nhiên thừa nhận như một thước đo “kinh điển”. Một hiện tượng vượt ra ngoài nó, dù chỉ với một lượng tác phẩm rất ít, ở đây là thơ Nguyễn Đình Thi, bị đem ra cân đo, đương nhiên là ở vào thế bị động và bất lợi.

Quả vậy, ở phần trình bày của mình, vốn mang tính chất tự phê bình, Nguyễn Đình Thi chỉ có thể gợi ra sự cảm thông, thái độ hiểu biết đối với những tìm tòi của mình. Tuy vậy, dù vắn tắt, ông cũng nêu khá rõ một quan niệm, một chủ trương trong nghệ thuật thơ.



“Hình thức cũ để tả nội dung cũ. Nội dung mới, tự nó sẽ tìm đến hình thức mới” — đó là lý lẽ, cũng là thực tiễn kinh nghiệm của bản thân : “Bài đầu tiên theo thể nàylà Đêm mit tinh (…) tôi làm nó theo hình thức thường; bốn, năm đêm liền, thấy không được. Cuối cùng, tôi quay sang một thể khác, và có bài Đêm mit tinh như các anh chị đã đọc. Sau bài ấy, tôi còn làm tiếp nhiều bài nữa”.



Nguyễn Đình Thi gọi kiểu thơ mà mình đang theo đuổi là “thơ tự do” mà nét cốt yếu về hình thức là câu thơ dài hay ngắn, có vần hay không vần — đều “không quan hệ” (không quan trọng), không có chuẩn cố định. Đối với ấn tượng lạ lẫm trước “thơ không vần”, ông nói: “Có vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ…Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không chịu được”. Đối với ấn tượng về ý thơ không “dính”, “đầu ngô mình sở”, ông nói: “Tôi không thích những bài thơ nói ra tâm tình. Nó phải nói ra cảm xúc: cảm xúc là tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi, tay sờ, cảm thế nào nói thế ấy”. Ông không thích kiểu thơ kể lể tình cảm mà chủ trương “chỉ nói cái sống ra bằng những hình ảnh, thành cảm xúc”. “Thơ như thế không phải đầu ngô mình sở. Nó cũng có sợi dây nối liền những hình ảnh đó lại. Đó là một thứ dây lý luận rất khéo”.



Đối với ấn tượng của Thế Lữ về tính cách “quý phái cao đạo”, “kiêu căng” của kiểu thơ này, Nguyễn Đình Thi chưa chống trả được bao lăm. Chỉ có thể nhận thấy những hàm ý trả lời, ví dụ : “Rất đau thương mà không nói, đó là thái độ nội dung của tôi”, hoặc : “Khi gạt luật bên ngoài đi, phải có luật bên trong rất mạnh”.

Tóm lại, Nguyễn Đình Thi dù vắn tắt đã nói được một quan niệm về thơ, một cách làm thơ với những nét khác biệt đáng kể so với quan niệm của Xuân Diệu, Thế Lữ, tức là quan niệm được thành tựu bởi phong trào thơ mới 1932-45.



Trên đây là sự trình bày tương đối chi tiết các ý kiến trong tranh luận. Điều tôi lưu ý là ở đây nét đậm nhất chính là sự va chạm, xung đột giữa chuẩn mực thơ mới 1932-45 với những tìm tòi hậu thơ mới mà Nguyễn Đình Thi thực hiện vào cuối những năm 1940, cũng tức là thời gian đầu cuộc kháng chiến 1946-54 . Cần phải nói rõ, không khí trong giới văn nghệ đi kháng chiến hồi này là một không khí rất trong sáng, các ý kiến tranh luận, dù gay gắt cũng vẫn rất vô tư. Chính vì vậy, tính xung đột về quan niệm càng thuần tuý, thuần khiết. Xin dẫn thêm câu nhận xét trong bài tường thuật của Nguyễn Huy Tưởng: “Do cái không khí rộn rã chung quanh và do cái không khí của bản thân hội nghị, phiên họp tranh luận cuối cùng này về một vấn đề vừa gay go vừa thú vị, là một buổi dốc bầu tâm sự thể hiện trong những câu đối đáp khi kịch liệt khi nồng nàn.”

Nói rằng những tìm tòi về thơ của Nguyễn Đình Thi va chạm với các chuẩn mực của thơ mới 1932-45, cần phải cụ thể hoá hơn: đó là chuẩn thơ mới của tuyến mà tôi tạm gọi là tuyến “từ Thế Lữ đến Xuân Diệu”.



Thơ mới 1932-45 là một phong trào rộng lớn và không thuần nhất. Với thời gian, người ta thấy rõ tuyến từ Thế Lữ đến Xuân Diệu không phải tuyến đạt đến thành tựu cao nhất (ví dụ so với “trường thơ loạn” mà tiêu biểu là Hàn Mặc Tử), nhưng lại là tuyến mà thành tựu được phổ cập nhất, và đương thời đây cũng là tuyến thanh thế nhất. Với tuyến này, thơ mới thoát khỏi cái khuôn của những thể thơ cách luật đã có trong truyền thống thơ tiếng Việt, nhưng các thể thơ do nó tạo ra vẫn là một thứ “cách luật” nới rộng (tiêu biểu là thể câu thơ 8 chữ); các yêu cầu về vần, về liên hệ cú pháp-ngữ nghĩa vẫn được xem trọng. Những yêu cầu về nội dung và hình thức mà Xuân Diệu nêu lên trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi ở Việt Bắc năm 1949, vẫn chủ yếu là sự diễn đạt những chuẩn mực của thơ mới 1932-45 ở tuyến của ông. Sự đồng tình của số đông người dự thảo luận với các ý kiến của Xuân Diệu, Thế Lữ chỉ cho thấy mức độ phổ cập, cũng là mức độ bị quy phạm hoá, trở thành hình thức được thừa nhận chung, – của các tìm tòi và thành tựu của thơ mới 1932-45 thuộc tuyến từ Thế Lữ đến Xuân Diệu.

Những tìm tòi về thơ hồi 1948-49 của Nguyễn Đình Thi thực tế là vấp phải những chuẩn mực đã trở thành quy phạm ấy. Đó là những quy phạm tuy mềm mại, linh hoạt nhưng vẫn là những giới hạn không dễ vượt qua mà không hứng chịu phản ứng bất bình, thậm chí cho đến tận những năm 1980-1990 này.

___ Ad Lô ___

Address

Hai Phong

Telephone

0946484496

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Yêu Văn Chương :") posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share