Ths.Bs Vũ Trí Linh - Chuyên Đào Tạo Thầy Thuốc Đông Y

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Ths.Bs Vũ Trí Linh - Chuyên Đào Tạo Thầy Thuốc Đông Y

Ths.Bs Vũ Trí Linh - Chuyên Đào Tạo Thầy Thuốc Đông Y Trung tâm đào tạo kỹ năng y học chuyên đào tạo các lớp cơ bản và nâng cao ?

Trung Tâm Đào Tạo Kỹ Năng Y Học là nơi học tập và nghiên cứu chuyên môn như :
- Xoa bóp bấm huyệt
- Tác động cột sống
- Tham khám điều trị y học bằng tay
- Châm cứu
- Y lý
- Đông dược
- Thuốc nam.....................................................
Trung tâm là lơi trao đổi chuyên môn và học thuật giữa các bạn sinh viên, cựu sinh viên và giáo viên trong nghành y.

MẠCH THẬN- BÀNG QUANGMạch Thận ở bộ Xích tay trái, phù án xem mạch Bàng quang, trầm án xem mạch Thận. Thận với Bàng quan...
16/08/2026

MẠCH THẬN- BÀNG QUANG
Mạch Thận ở bộ Xích tay trái, phù án xem mạch Bàng quang, trầm án xem mạch Thận. Thận với Bàng quang là biểu lý.
Trầm án thực và hoạt: là bản mạch của Thận, vô bệnh. Ta thường nghe nói “Thận mạch là Thạch mạch” có nghĩa mạch Thận trầm nặng như đá.
Trầm án thực: mà lại nhỏ ít là mạch có bệnh ở Bàng quang.
1. Mạch bàng quang
Mạch Sác: Bàng quang hỏa động làm nội nhiệt, tiểu tiện đỏ.
Mạch Trì: Tinh khí hao tổn nhiều mà đái có mủ, làm trong tai (Thận, Bàng quang khai khiếu ở tai) có tiếng kêu rè rè như ve kêu, lâu ngày sẽ điếc.
Mạch Hoạt mà lại Thực đại: Bàng quang hỏa vượng. Thường do tà nhiệt ở tâm đi xuống xâm lấn làm đái buốt đau nhức.
Mạch Thậm (phù rất mạnh): Hàn tà xâm nhập Bàng quang làm bệnh thiên trụy, nước đái nóng.
Mạch Khẩn: trong Thận có phong hàn công kích lên làm điếc tai, cảm hàn.
Mạch Sắc (Sáp): Bàng quang Thận hư hàn. Mơ mộng tinh tiết ra.
Mạch Hư: Bàng quang Thận hư hàn. Răng đau chảy máu, lưng và eo lưng nhức mỏi. Nặng hơn làm lở ống chân lâu năm không khỏi.
Mạch Khổng: Bàng quang Thân hư làm nam thiếu Huýêt (đái ra máu), nữ lậu huyết.
Mạch Hoãn: Bàng quang kinh bị thương phong làm tả bạch (ỉa chảy, nước phân trắng như sữa).
Mạch Thực: Thận nhiệt truyền vào Bàng quang .àm bụng đầy trướng mà đái gắt.
Mạch Hoạt: lạnh bụng, lạnh rốn. Nặng hơn thì có tiếng nước róc rách trong bụng.
Mạch Hồng: Nếu ngoại cảm mà tả xích phù hồng thì Bàng quang nhiệt làm tiểu tiện đỏ buốt, hai chân đau nhức ê ẩm. Nếu nội thương mà tà xích phù hồng thì Tinh huyết thiếu làm chân gối nhức mỏi.
Mạch Tuyệt: chí có mạch Thận, không có mạch Bàng quang. Tay chân lạnh. Nam nhân thì di tinh tiết tinh và đái không hết hẳn, cứ còn lại rồi rỉ rỉ dần dần ra. Nữ nhân thì kinh nguyệt không thông hay không hành.
2. Mạch thận
Mạch Sác: Thận hỏa vượng. Thận thủy khô kiệt thì âm hư mà hỏa động lên làm bệnh phong táo đau gân. Trầm án Sác cũng có thể làm bệnh ứ huyết nữa.
Mạch Trì: Thận hàn lãnh làm bụng lạnh hay ỉa chảy. Nam nhân thì Tinh khí hàn lãnh suy bạc. Nữ nhân thì huýêt ứ kết mà tử cung cũng lạnh.
Mạch Khẩn lại Huyền hay Hoạt: Phong Thấp ở Thận làm đau lưng buốt chân.
Mạch Huyền: Thận lạnh, nước đình tích ở hạ tiêu làm bệnh phù nước (thủy thũng).
Mạch Vi: Thận khí hư. Nam nhân thì di tinh, niệu huyết (đái ra máu), nữ nhân thì băng trung, đái hạ.
Mạch Thậm (trầm rất mạnh): Thấp nhiệt ở hạ bộ, phát ngứa âm bộ và đau nhức lưng chân.
Mạch Hoãn: Tà ở Tỳ thổ xâm lấn Thận thủy (tặc tà) làm chân tê thấp, hạ bộ hàn lãnh.
Mạch Phục: âm khí kết ở hạ bộ làm bệnh xán khí, tiết tả hay kết lại làm trưng hà.
Mạch Nhu: khí tán, huyết hao. Nam tiện huýêt, nữ hư thai.
Mạch Sắc (Sáp): Thận hư không ôn dưỡng trượng vị làm tay chân lạnh, ợ ngược, chuyển vận khu dưới rốn ùng ục.
Mạch Hoãn mà Sắc: Loại bệnh mết mỏi đến cực độ, khó có thể gọi được là bệnh gì. Hoãn là nóng trong mà Sắc thì mất máu. Nóng trong mà không có máu thì hàn chẳng ra hàn, nhiệt chẳng ra nhiệt, chỉ có thể hiểu là “nóng trong, mất máu, mệt mỏi cực độ”.
Mạch Tán: Thận suy làm đau lưng, đái nhiều.
Mạch mà không có Hoạt hay Hoạt: đều là thuận mạch vô bệnh về thận.
Thận mạch Nhược: Thận suy như muốn tuyệt làm đau xương, đau mình, có thể đau cả ngoài da.
Thận mạch Tuyệt: chỉ có mạch Bàng quang, không có mạch Thận, tức là lao quyện quá mức, Tinh khí suy kiệt làm nóng hai lòng bàn chân.
Phù án và Trầm án đều hư: tức là Bàng quang với Thận đều hư hàn làm đau tim. Nước Thận chảy xuống bắt đõng tả không ngừng. Tức là Tả Thận (đõng tả: ỉa tong tỏng như nước trong ống rớt ra).
Phù án và Trầm án đều thực: tức là Bàng quang và Thận đều thực nhiệt làm đầu và hai mắt nặng nhức và có thể phát điên.







MẠCH TRƯỜNGTrường là dài không ngắn. Sức mạch đi dù mạnh dù yếu đều chạy ra ngoài bản vị của mạch. Ví dụ: từ bộ xích chạ...
13/08/2026

MẠCH TRƯỜNG
Trường là dài không ngắn. Sức mạch đi dù mạnh dù yếu đều chạy ra ngoài bản vị của mạch. Ví dụ: từ bộ xích chạy tuột ra cả ngoài bộ Thốn. Mạch Trường dài trái vói mạch Đoản ngắn (xem mạch Đoản số 24 mà so sánh).
Mạch Trường chủ về khí, khí huyết có mạch lạc đường lối phân minh là không rối loạn. Nếu khi có bệnh, thấy mạch Trường kèm theo mạch Hoãn thì bệnh gì cũng dễ trị.





MẠCH CAN- ĐỞMMạch Can ở bộ Quan tay trái, Phù án xem mạch Đởm, trầm án xem mạch Can, Can và Đởm là biểu lý.Huyền là bản...
04/08/2026

MẠCH CAN- ĐỞM
Mạch Can ở bộ Quan tay trái, Phù án xem mạch Đởm, trầm án xem mạch Can, Can và Đởm là biểu lý.
Huyền là bản mạch của Can, vô bệnh. Nếu Huyền mà có phần nhu nhuyễn, cũng là đắc trung vô bệnh.
Huyền mà nhỏ ít là bệnh ở Đởm: Đởm không vững chắc thì run sợ, chiều chiều lên cơn nóng, phát bệnh Hoàng đản (vàng toàn thân, móng tay móng chân và tròng mắt đều vàng).
1. Mạch đởm
Mạch Sác hay Phù Huyền khẩn: Phong nhiệt làm chiều chiều phát nóng, gân mạch co rút chuyển vận (Can Đởm chủ gân cơ).
Mạch án Trì: Can Đởm lạnh làm người cứ ớn lạnh, có khi lại phát nóng và chảy nước mắt sống (nước mắt là dịch của Cản Đởm).
Mạch Tế: Đởm thiếu khí nóng làm chân tay thân thể có vẻ run run, mà đêm nằm lắm mồ hôi trộm (ảnh hưởng đến Tâm).
Mạch Nhược mà hơi Tán: Phế, Đại trường kim xâm lấn Can Đởm mộc làm Can Đởm khí suy yếu sinh hoa mắt, mờ mắt (tặc tà).
Mạch Khổng: Bị mất máu mà máu lạnh, máu thiếu không đủ vận hành làm tay chân co giựt.
Mạch Thậm (Phù rất nặng): Thiếu máu (Can Đởm tàng huyết), không đủ nuôi gân làm gân run giựt tay chân. Nếu có bệnh tích ở ruột là Tỳ Vị có thấp nhiệt. Bởi Can phong nhân cơ hội Tỳ yếu đó rót xuống làm bệnh: nhẹ thì ỉa ra máu, nặng thì phát trĩ lậu (vi tà).
Mạch Đại mà Hoạt Thực: Tâm tiểu trường hỏa xâm lấn Can Đởm mộc (hư tà) làm máu nóng sinh đàm, đầu mặt u ám, cổ họng khô, có khi còn làm sưng nhức cả người.
Mạch Dật (mạch Phù đầy tràn cả Thốn khẩu): Hỏa vượng huỳêt suy, làm xây xẩm đầu mặt, các đường gân đau nhức ê ẩm.
Mạch Sác (Sáp): Huyết thiếu sinh bệnh, nhẹ thì đau mình, đầy trướng bụng sườn, nặng thì bắt thở ngược, đái ỉa không thông. Đàn bà có mạch này Huyết ngưng Khí trệ, kinh nguyệt không thông (Can Đởm chủ bộ sinh dục).
Mạch Tuyệt: không có Đởm mạch, chỉ có mạch Can, Tâm trạng sợ hãi, hai gối run run đau nhức.
2. Mạch can
Mạch Trì: Can hàn máu lạnh làm trong bụng đôi khi khí xán nổi lên đau nhức mà đêm nằm ngủ không yên giấc.
Mạch Sác: Can hỏa động làm hay uất giận, có khi phát lở ngứa hay phát ung thư.
Mạch Huyền và Khẩn Thực: Thận thủy không đủ nuôi dưỡng can mộc làm can huyết lạnh rồi kết lại thành tích ở gần rốn hay hai cạnh sườn (hư tà).
Mạch Thực: Can huyết nhiệt làm chuyển gân vặn thịt mà đau như cắt.
Mạch Vi: Can khí thiếu làm trong bụng đầy trướng, có khi ỉa lỏng, ỉa chảy.
Mạch Nhược: Can huyết lạnh làm các cân cơ co rút đau nhức, có khi đau quá ưỡn người ra cứng thẳng như kéo dây cung nỏ (Đàn bà mới sanh hay có bệnh này).
Mạch Hoãn: Thức ăn cũ không tiêu đứng lại, nung nấu bức nóng xóc lên đau cuống tim hay khí ấy kết lại làm đau bụng.
Mạch Phục: khí lạnh làm máu khó thông hành làm chân gối đau nhức khó co duỗi.
Mạch Nhu: Khí huyết của Can hư suy. Hoảng hốt run sợ, eo lưng đầu gối nặng nề khó vận động.
Mạch Tuyệt: Chỉ còn có mạch Đởm, không có mạch Can, cân cơ suy nhược đái són luôn luôn. Bệnh này nặng lắm, nếu gặp ngày (tương khắc) sẽ chết (ví dụ: bệnh mộc gặp ngày kim).
Tả Quan Phù án và Trầm án đều hư: tức là cả Can và Đởm đều hư hàn thì tay chân quýêt lãnh (lạnh buốt) tính tình không vui, khi mừng, khi giận bất thường.
Tả Quan phù án và trầm án đều thực: tức là cả Can vả Đởm đều thực nhiệt thì khổ về bệnh ợ ngược, ăn không tiêu.

THÔNG BÁO TUYỂN SINH LỚP MẠCH HỌC(BẮT MẠCH CHẨN BỆNH)Điểm khó của chẩn mạch không nằm ở bắt mạch, mà ở giải mạch.Cảnh gi...
31/07/2026

THÔNG BÁO TUYỂN SINH LỚP MẠCH HỌC
(BẮT MẠCH CHẨN BỆNH)
Điểm khó của chẩn mạch không nằm ở bắt mạch, mà ở giải mạch.
Cảnh giới cao nhất của giải mạch là thưởng thức mạch, giống như thưởng trà, ý vị vô cùng.



Do nhiều bạn có nhu cầu học, nâng cao kỹ năng Bắt Mạch nên Thầy Linh bắt đầu chiêu sinh lớp đến học vào chiều thứ 7 hàng tuấn 14h-17h
Lớp dự kiến khai giảng giữa tháng 08/2026
Như các bạn biết việc đọc và tự học mạch là việc rất khó đối với các bạn mới bước vào nghề Đông y cũng như các thầy thuốc hành nghề lâu năm.
Do nhu cầu của nhiều học viên trên toàn quốc muốn thầy Linh hướng dẫn mạch học nên thầy quyết định mở lớp mạch học để hướng dẫn các bạn.
Nội dung học mạch gồm:
1. Cách đặt tay chuẩn để bắt mạch.
2. Xác định bộ thốn quan xích chuẩn.
3. Phân bố bộ mạch ứng trên người ứng với giải phẫu tây y.
4. Phân biệt chi tiết các mạch cụ thể: Thất biểu, Bát lý, Cửu đạo, Tam mạch.
5. Bắt mạch chính xác theo sơ đồ mạch.
Thời gian dự kiến học trực tiếp
(học liên tục)
Học phí là 30 triệu/ 1 khóa/ 1 người.
Địa điểm: Hà Nội.
Lớp tối thiểu 5 học viên
Mọi chi tiết liên hệ thầy Linh: 0906799222

MẠCH TÂM - TIỂU TRƯỜNGMạch Tâm ở bộ Thốn tay trái, phù án xem Tiểu trường, trầm án xem Tâm, Tâm với Tiểu trường là bi...
31/07/2026

MẠCH TÂM - TIỂU TRƯỜNG
Mạch Tâm ở bộ Thốn tay trái, phù án xem Tiểu trường, trầm án xem Tâm, Tâm với Tiểu trường là biểu lý.
Mạch Tâm Phù, Hồng, Đại có thể cả Tán nữa là mạch trung bình. Đó là bản mạch của Tâm.
Phù Hồng Đại: chỉ thấy nhỏ ít thoang thoảng không kéo dài lâu được là bệnh Tiểu trường.
1. Mạch tiểu trường
Mạch Sác: Cảm nhiệt làm đau đầu, đau đốt xương, nóng mình đỏ mặt, nặng hơn làm đau tim, (Sác ứng với nhiệt).
Mạch Trì: làm đau bụng lạnh đau, ợ hơi, (Trì ứng với hàn).
Mạch Hư: khí huyết phủ Tiểu trường suy yếu. Đau một bên đầu (thiên đầu thống) chẳng ra má, ra tai.
Mạch Huyền mà Hoạt: khí trong bụng không thông làm sưng đau một hòn dái (thiên trụy) và rất nhiều giun cắn trong ruột (những người này khi ấy trên mặt có hiện những điểm chấm trắng).
Mạch Khẩn mà Hoạt: hàn khí, nhiệt khí đấu tranh nhau trong Tiểu trường, Bàng quang làm đái gắt, có khi bòn bế sáp cả đại tiện.
Mạch Hồng mà Hoạt: Đàm nhiệt nhiều làm cách và hiếp đầy trướng (Cách: hoành cách mô, hiếp: hai cạnh hốc bụng).
Mạch Đại mà Trường: phong là đầu mặt quay cuồng, có khi thành điên giản.
Mạch thực: nhiệt tà làm mặt đỏ.
Mạch Nhu: chân lắm mồ hôi, khí huyết Tiểu trường suy kém.
Mạch Khổng: Huyết ứ tích trong bụng không tan đi được. Huyết đã tích, khí cũng không thông làm sôi bụng. Nếu khí ấy nghịch lên thì Thổ ra máu. Khí ấy đi xuống thì đại tiện ra máu. Nặng hơn nữa vừa thổ vừa lỵ ra máu (xuất huyết phủ tiểu trường).
Mạch Dật: (đẩy lên đầy ngón tay trong bộ Thốn mà sang cả bộ Quan): Tâm nhiệt làm đỏ mặt, buồn ngực và đau các khớp xương.
Mạch Tuyệt: Tiểu trường không có mạch, chỉ còn có mạch Tâm là khí huýêt hư suy làm lạnh rốn, đau bụng, kết trưng hà trong bụng.
2. Mạch tâm
Mạch Trầm: khí uất làm lắm đàm, mất ngủ. Nếu khí ấy uất lên làm đau mắt, khí ấy đi xuống làm băng huyết, lậu huyết hay lạc huýêt (khạc ra máu, không ho).
Mạch Sác, Hoạt, Thực: Nhiệt cực. Tâm trạng kinh hoàng, nói ngọng lưỡi cứng.
Mạch Trì: Tâm hàn, huyết hàn. Tinh thần suy nhược.
Mạch Vi: Vinh huyết yếu mà hư hỏa thượng công làm hông và cách đầy trướng.
Mạch Thực: Thượng tiêu nhiệt làm lở miệng lưỡi, đau cổ họng.
Mạch Hoãn: Khí huyết hư hàn làm gân cổ, gân lưng đau cứng.
Mạch Hoạt: Đàm và khí nóng công kích nhau làm ụa mữa, ợ ngược hay làm Tâm run sợ.
Mạch Sác (vô lực): Khí huyết ở Tâm kinh suy yếu, vị khí hạ hãm, tinh thần uể oải, mặt mất máu, lưỡi không buồn nói.
Mạch Khẩn: Thận thủy nghịch lên khắc chế Tâm hỏa làm đau giữa tim như đâm như xọc vào, thật rất nguy nan (tặc tà).
Mạch Nhược: Dương khí hư làm Tâm kinh hoàng, mồ hôi thoát ra rất khó trị.
Mạch Phục: Nhiệt khí ở tâm phế tích tụ trong bụng làm nóng uất lắm đàm.
Tâm mạch Huyền: Can tà xâm lấn vào Tâm làm cứ cào cào như đói mà lại tưng tức như no đầy (hư tà).
Mạch Tuyệt: Tâm không có mạch (chỉ còn có mạch Tiểu trường) làm đau xói dưới tim, nóng hai lòng bàn tay, trong miệng lở loét lại hay nôn ọe.
Phù án và Trầm án đều hư: tức là Tâm và Tiểu trường đều hư hàn, là đại tiện tháo, thiếu hơi thở, người mệt lạnh, tay chân lạnh.
Phù án và Trầm án đều thực: tức là Tâm với Tiểu trường đều thực nhiệt làm bí đái, bí ỉa, ngực nóng, bụng trướng đầy.





CÁC THỂ TRẠNG MẠCH KHÓ TRỊ KHÁC1. Mạch còn nhưng cơ thể quá tiêu haoXem 3 bộ mạch tuy còn đều hòa vô bệnh, nhưng người ấ...
29/07/2026

CÁC THỂ TRẠNG MẠCH KHÓ TRỊ KHÁC
1. Mạch còn nhưng cơ thể quá tiêu hao
Xem 3 bộ mạch tuy còn đều hòa vô bệnh, nhưng người ấy gầy ốm, thân hình như que củi tức đã mất cả cơ và mất cả thịt là loại bệnh khó trị, vì cơ và thịt thuộc Tỳ. Cơ và thịt đã tiêu hết, tức là Tỳ khí đã tuyệt cho nên khó trị. Uống thuốc đến bao giờ hồng lấy lại cơ và thịt ấy. (Nói khó trị có nghĩa là sẽ bị chết) Cửu hậu tuy điều, nhi cơ nhục tước gia nan trị.
2. Chỉ còn mạch ở bộ Thốn
Người bệnh ấy trong lúc bệnh nguy nan, mạch bộ Quan, bộ Xích đã hết, mặc dù mạch bộ Thốn hãy còn quân bình cũng sẽ chết. Bởi cả 3 mạch (Thốn, Quan, Xích) ví nhu một cái cây, Thốn là ngọn cây, Quan là thân cây, Xích là gốc cây. Thốn mạch tuy còn, tức chỉ còn có ngọn cây, ngọn cây còn mà gốc cây (Thận) không còn, cây sẽ chết. Như vậy biết rằng: “Sự sống con người gốc ở Thận, ví như cây phải có gốc” (Thụ nhi hữu căn). Lại cũng biết rằng hạ bộ có mạch mà thượng bộ không có mạch còn có cơ cứu vãn. Ngược lại, nếu thượng bộ có mạch mà hạ bộ không có mạch sẽ chết. Thốn mạch bình nhi tử.
3. Mạch còn nhưng không đi lại.
Trong lúc bệnh nguy nan, mạch 3 bộ tuy có còn “đấm lên” đủ cả nhưng trong đường mạch nó không đi đi lại lại, tức là âm dương trong người không đi lại giao hòa với nhau nữa, bệnh ấy sẽ chết. Như vậy biết rằng, mạch tuy hầu như mất cả 3 bộ, nhưng xét kỹ nó còn có một đường dây mạch nhỏ bé đi lại giao hòa với nhau thì âm dương hãy còn liên hệ, may ra có thể cứu sống. Mạch tuy toàn nhi vô vãng lai giã tử.
4. Người mạnh nhưng mạch bệnh và ngược lại
Người sức lực khỏe mạnh mà mạch Trầm Vi vô lực, Nhân cường, mạch bệnh.
Người thân hình gấy ốm, tinh thần bạt nhược mà mạch hồng thực hữu lực. Nhân bệnh, mạch cường.
Hai loại mạch này là mạch chứng tương phản, tức là âm dương tương phản cũng sẽ không sống.
Lại nên biết: những người béo mập thịt đầy nên mạch Trầm kết.
Những người gầy ốm thịt mỏng, mạch nên phù trường.
Những người lùn thấp, mạch nên ngắn gọn (đoản xúc).
Những người cao dài, mạch nên dài nhẹ (trường vi). Đó là nói chung, tất cả nếu ngược lại sẽ không tốt.

TỀ CHẨN(Xem mạch rốn)Tề chẩn là xem mạch rốn, Phúc chẩn là xem mạch bụng.Phúc chẩn: Xem mạch bụng để biết da bụng dày mỏ...
28/07/2026

TỀ CHẨN
(Xem mạch rốn)
Tề chẩn là xem mạch rốn, Phúc chẩn là xem mạch bụng.
Phúc chẩn: Xem mạch bụng để biết da bụng dày mỏng, vùng bụng (tả hữu) nào cứng mềm. Thượng tiêu, hạ tiêu, trung tiêu nơi nào không tiêu no đầy và khi bị đau bụng cho nắn bóp hay không cho nắn bóp. Tất cả các sách đã nói. Nhiều thấy thuốc đều đã biết. Nhất là trong Hoàng Hán y học đã để hẳn ra một mục Phúc chẩn nhiều người đã đọc.
Tề chẩn: Việc xem mạch rốn khá quan trọng, nhiều thầy thuốc đã biết mà phần nhiều bỏ qua không nói tới. Lại cũng có nhiều Thầy không hề biết đến mạch rốn.
Lãn Ông, người dạy: Tề gian động khí: Cái khí (hơi) tự động ở rốn. Tề gian trúc khí: cái khí tự động ở rốn nó kết lại.
Cách xem mạch rốn: bệnh nhân nằm ngửa cho cái bụng cân bằng. Ta để một ngón tay bằng phẳng trên giữa khu rốn của bệnh nhân mà ấn sâu thẳng xuống sẽ thấy:
Hơi ở rốn đấm lên giữa 4 ngón tay, bùng bùng từng tiếng một, bệnh nhẹ.
Không có hơi đấm lên mà nó cứng như một lò xo bằng sắt xoay dưới 4 ngón tay ta, bệnh nặng.
Đã cứng như lò xo bằng sắt lại có hơi ở giữa đấm lên, bệnh nặng lắm (viết đúng sự thật đã thấy).
Mạch rốn ấy có người có, có người không có, chứ không phải hễ có bệnh mà mạch ấy có.
Mạch rốn ấy ngừơi bệnh không biết là hơi trong rốn mình nó đập hay là nó xoay, chỉ biết nó no hơi tức ngực thì kêu no hơi tức ngực.
Bệnh: hơi trong rốn nó đập hay nó xoay đều bởi tỳ âm (huyết) bị khô. Nghĩa là người bệnh thấy Tỳ vị mình suy yếu, ăn đồ cay nóng nhiều để cho Tỳ dương nó có khí nóng ấm, biết đâu Tỳ dương nóng quá làm khô Tỳ âm, âm huyết khô, khí kết lại thành luồng hơi đẩy lên.
Trường hợp nào xem mạch rốn: không phải bệnh nhân nào ta cũng xem mạch rốn. Khi ta gặp những người thường kêu no đầy tức ngực khó ngủ, những người gầy sạm, da thịt khô, những người mạch tim đánh mạnh, những người Thận thủy suy kiệt, nhất là những người đau bụng kinh niên thường hay có mạch này vì họ ăn uống đồ nóng ấm nhiều.
Tất cả những người ấy, ta xem mạch Thốn khẩu đoán bệnh có vẻ không quyết định, thì nên xem mạch rốn.
Phép chữa: Lãn Ông dạy: Tề gian trúc khí, cấm đụng bạch truật, sát nhân: khí ở rốn kết lại đấm lên bùng bùng, cấm không được cho uống Bạch Truật, nếu cho uống Bạch truật sẽ giết người ta. Tại sao? Vì Bạch truật là chất cứng khô (cương táo) Tỳ âm đã khô, uống Bạch truật vào nó sẽ khô thêm.
Tuy nhiên Ngừơi lại dạy: Bệnh kết hơi ở rốn bởi Tỳ âm khô. Nếu uống Bạch truật, phải nhiều Truật, phải nấu Truật thành keo, mới uống được. Vì Truật đã nấu thành keo là Truật đã có dầu không khô cúng nữa. Tỳ đang bị khô, được đầu Truật dẫn vào ệm dịu ngay vì Truật là Tỳ dược (xem Châu ngọc cách ngôn quyển thượng).
Tôi đã từng trị bệnh “rốn đập” này bằng vị Bạch thược tẩm rượu sao thay Truật. Vì lúc cấp, Truật đâu để nấu cao và chờ nấu Truật thành cao khá dài thời gian.
Tôi suy nghĩ sao cho Tỳ âm khỏi khô mà được êm dịu? Tôi dùng Bạch thược là chất bình Can hỏa cho khỏi khô lại tư dưỡng Tỳ âm rất mau. Những người Tỳ âm khô lại Thận thủy cạn có thể dùng Thục địa sao thật khô hay có thể tạm dùng Hoàng cầm (sao cháy) một vài lần.
Tỳ thuộc thổ, thổ sợ khô (ố táo) thổ cũng sợ ướt sợ lạnh (ố thấp, ố hàn). Tỳ thổ chỉ ưa êm dịu mà bình hòa, cho nên chỉ cùng thuốc gì có dầu mà bình hòa đưa vào cho Tỳ (khi Tỳ bị khô) mới được, chứ không phải nói “Tỳ khô” mà đưa thuốc “mát lạnh” vào được vậy. Độc giả nên suy luận: có thấy, có biết, mới viết ra đây.

NGŨ SẮC KỲ MẠCH (  kỳ kinh có 5 màu sắc)Trong 5 mạch của kỳ kinh có mạch Xung, mạch Nhâm là biểu chứa huyết của con ngườ...
27/07/2026

NGŨ SẮC KỲ MẠCH ( kỳ kinh có 5 màu sắc)
Trong 5 mạch của kỳ kinh có mạch Xung, mạch Nhâm là biểu chứa huyết của con người. Huyết ấy dẫn khắp 5 tạng, nhưng hết thảy đều hướng về Can. Vậy Can là nơi chứa đựng huyết (Can tàng huyết).
Khí và Huyết trong người đều có màu sắc hiện ra mặt và mắt.
Khí hiện ra mặt.
Huyết hiện ra mắt (mắt thuộc Can).
Khi xem bệnh lúc nguy nan, ta nhìn sâu sắc trên mặt và mắt của người bệnh để biết người bệnh ấy sống hay chết?
Trước khi xem nên biết “mà vàng là màu của Tỳ thổ”. Sắc mặt vàng là có Vị khí sẽ sống, nếu sắc mặt không còn màu vàng mà lại lộ màu khác là không có Vị khí sẽ chết. Thí dụ:
Sắc mặt vàng mà mắt xanh hay trắng, đỏ, đen. Mặt dù mắt có thay đổi màu sắc, nhưng trên mặt vẫn còn có màu vàng thì người ấy sẽ sống. Bởi âm huyết của 5 tạng còn có dương sinh của Vị khí.
Ngược lại, nếu trên mặt không có sắc vàng mà mặt đỏ, mắt đen. Mặt đen, mắt trắng. Mặt đỏ, mắt xanh. Mặt xanh, mắt đỏ. Mặt đỏ mắt trắng. Mặt đen, mắt xanh thì người ấy sẽ chết. Bởi âm tà của 5 tạng lấn át hết dương khí là bệnh “thuần âm vô dương” không còn có Vị khí.
Điều đó chứng minh thêm cho câu “Nhân sinh vị khí vi bản” nói trên.

NGŨ SẮC MẠCH(Mạch có 5 màu sắc)Mạch có Phù, Trầm, Trì, Sác: nổi, chìm, chậm, mau v.v…  lại có 5 màu sắc: Xích, hoàng, bạ...
26/07/2026

NGŨ SẮC MẠCH
(Mạch có 5 màu sắc)
Mạch có Phù, Trầm, Trì, Sác: nổi, chìm, chậm, mau v.v… lại có 5 màu sắc: Xích, hoàng, bạch, thanh và hắc (đỏ, vàng, trắng, xanh, đen). Người mới vào nghề vừa nghe tưởng cũng lạ tai.
Nhưng không, đó chỉ là lấy 5 màu của 5 hành ứng hợp với 5 tạng mà gọi tên mạch của 5 tạng.
Xích mạch: mạch Tâm, vì Tâm thuộc hỏa, sắc xích (đỏ) khi đã nói Xích mạch là chỉ vào tâm có bệnh đàm hỏa, điên cuồng hay ban chẩn.
Hoàng mạch: mạch Tỳ, vì Tỳ thuộc thổ, sắc hoàng (vàng) khi đã nói Hoàng mạch là chỉ vào Tỳ có bệnh thũng trướng, thương thực, quan cách.
Bạch mạch: mạch Phế, vì Phế thuộc kim, sắc bạch (trắng) khi đã nói Bạch mạch là chỉ vào Phế có bệnh đàm ẩm, hen suyễn, hư lao.
Thanh mạch: mạch Can, vì Can thuộc mộc, sắc thanh (xanh) khi đã nói thanh mạch là chỉ vào Can có bệnh đau mạn sườn, ụa khan, tiêu ra máu.
Hắc mạch: mạch Thận, vì Thận thuộc thủy, sắc hắc (đen) khi đã nói Hắc mạch là chỉ vào Thận có bệnh đau lưng, mỏi gối, làm lậu, di tinh.
Như vậy khi nghe nói: xích mạch hiểu là Tâm bệnh, Hoàng mạch hiểu là Tỳ bệnh, Bạch mạch hiểu là Phế bệnh, Thanh mạch hiểu là can bệnh và Hắc mạch hiểu là Thận bệnh, Tuy chỉ là danh từ nói mạch cũng cần phải biết.

Chiêu sinh lớp : Xoa Bóp Bấm Huyệt - Nắn Chỉnh Cột Sống dành cho sinh viên Y- Lớp cơ bản 3 tháng.✅ Lớp học hướng dẫn tro...
02/05/2026

Chiêu sinh lớp : Xoa Bóp Bấm Huyệt - Nắn Chỉnh Cột Sống dành cho sinh viên Y- Lớp cơ bản 3 tháng.
✅ Lớp học hướng dẫn trong khung giờ 18h-19h
✅ Thầy Linh hướng dẫn trực tiếp
✅ Tuần học 3 buổi.
✅ Học phí lớp cơ bản ưu dành cho sinh viên y: 6tr/1 khoá. (Người đi làm 10tr/1khoá)
✅ Sau khi học xong lớp cơ bản các b cần rèn luyện chuyên sâu có thể học thêm 3 tháng. Học phí liên hệ khi có nhu cầu.
☎️ Liên hệ để đăng ký tham gia khoá học.
Lớp học vào tháng 5/2026. Hạn đăng ký 20/5/2026.

Address

NO 02, LK 83, Khu Dịch Vụ Cây Quýt, P. La Khê Hà Đông, Hà Nội( Gần CT5C/Khu đô Thị Văn Khê)
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ths.Bs Vũ Trí Linh - Chuyên Đào Tạo Thầy Thuốc Đông Y posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Ths.Bs Vũ Trí Linh - Chuyên Đào Tạo Thầy Thuốc Đông Y:

Shortcuts

Share