Phương pháp học tập mới có hiệu quả

Phương pháp học tập mới có hiệu quả Học như thế nào để nắm vấn đề một cách nhanh nhất, hiểu vấn đề một cách sâu nhất và để vượt qua các kỳ thi một cách đơn giản nhất là vấn đề luôn gặp phải

Năm 2016 là năm đất nước mở rộng hợp tác quốc tế, đòi hỏi nguồn lực Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập với nền tảng tri thức quốc tế.... Casa thành lập với mục đích và nguyện vọng lớn " Giáo dục các em thành người có ích, định hướng nền tảng mới, thay đổi cách tư duy đường mòn để các em tiếp cận với nền giáo dục quốc tế" Win cam kết sẽ đạt hiệu quả sau mỗi khóa học

08/07/2021
19/09/2019

Mình cần tuyển thêm gv lớp nhà trẻ gần Đền Lừ. 0968648617

22/07/2016

giảm 10% cho các trường đăng ký học 2 môn năng khiếu trở lên

05/04/2016

Kỹ năng học và tự học

Học là quá trình lâu dài và không ngừng nghỉ, dù bạn có thông minh tới đâu nhưng nếu không học, không trau dồi kiến thức liên tục thì thông minh cũng chỉ giống như vật trang trí mà thôi. Tuy nhiên, bạn cần phải hiểu rằng không phải mỗi ngày cắp sách tới trường, chăm chú nghe thầy cô giảng bài, hay cứ ra đời rồi mình sẽ tự có kiến thức. Đó là suy nghĩ hoàn toàn sai lầm. Để có được kiến thức bạn cần phải có kỹ năng học và tự học, những kỹ năng đó sẽ không ai dạy bạn mà chính bản than bạn phải ý thức được sự quan trọng của kiến thức mà rèn luyện cho bản thân. Vậy những kỹ năng đó là gì, bạn có thể rèn luyện cho mình những kỹ năng đó hay không?

Kế hoạch và mục tiêu

Làm bất kỳ việc gì dù lớn hay nhỏ bạn cũng cần phải có kế hoạch và mục tiêu rõ rang. Với việc học cũng vậy, bạn phải lên cho mình một kế hoạch học tập thật khoa học, xác định được khối kiến thức mà bạn cần phải trau dồi, phân bổ thời gian cho từng loại kiến thức cụ thể nếu bạn không muốn lãng phí thời gian cho một mớ kiến thức hỗn độn trong đầu.

Có kế hoạch thì phải có mục tiêu, mục tiêu sẽ là động lực học tập của bạn. Bởi bạn biết mình cần phải học vì cái gì, những loại kiến thức bạn học sẽ phục vụ vào công việc gì. Khi đó bạn sẽ chủ động học và tự học để có đủ kiến thức thực hiện mục tiêu mà bản thân đã đề ra.

Phương pháp và nhẫn nại

Bạn không thể cứ ngồi vào bàn ghi ghi, chép chép, hay cầm quyển sách lên đọc, lên mạng tìm kiếm tài liệu nghĩa là bạn sẽ có được lượng kiến thức như mình mong muốn. Việc học không đơn giản như vậy, để có được những kiến thức hay, bổ ích bạn phải có phương pháp học khoa học, tuy nhiên phương pháp học của mỗi người mỗi khác, đừng cố áp dụng phương pháp của người khác vào mình rồi ép bản than phải làm được như vậy. Hãy tìm ra phương pháp phù hợp với bản thân để việc học không gây khó khăn và chán nản cho bạn.

Để làm được như vậy bạn cần phải kiên trì, nhẫn nại. Đừng vội chán nản, lo lắng khi đã bỏ ra quá nhiều thời gian nhưng kết quả thu lại không được bao nhiêu. Hãy thay đổi phương pháp học nếu phương pháp bạn đang áp dụng không mang lại hiệu quả, bởi học không phải là ngày một ngày hai mà là “học nữa, học mãi”.

Kỷ luật khi học

Hãy luyện cho mình tính kỷ luật khi học trên lớp cũng như lúc tự học. Bạn không thể vừa học, vừa nói chuyện, vừa học vừa chơi game hay làm một việc khác. Khi học bạn hãy dành toàn bộ tâm trí, tập trung cao độ, không xao nhãng. Đừng tập cho mình những thói quen xấu khi học, nếu không những thói quen này sẽ theo bạn ở bất kỳ hoàn cảnh nào trong đời sống cũng như công việc. Hãy kỹ luật khi học, đó cũng là cách tốt nhất để bạn rèn luyện tính kỹ luật cho bản thân mình sau này.

Tìm kiếm tài liệu

Bạn không chỉ nên tiếp thu kiến thức từ một nguồn như giáo viên cung cấp, sách vở, xã hội… mà cần tìm kiếm tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Bạn đã nghe giáo viên giảng về vấn đề nào đó mà bạn quan tâm thì hãy tìm kiếm tài liệu về vấn đề đó từ sách, báo, các trang mạng, bạn bè để hiểu sâu hơn về nó. Tuy nhiên không phải ai cũng có kỹ năng tìm kiếm tài liệu nhanh và chính xác, vì thế bạn cũng cần rèn luyện cho mình kỹ năng này nhé. Việc này chỉ khó khi bạn mới bắt đầu, khi đã quen bạn sẽ dễ dàng tìm được các thông tin cần thiết để bổ sung thêm vào kho kiến thức của mình.

Tự kiểm tra kiến thức

Không phải kiến thức của bạn lúc nào cũng được người khác kiểm tra, vì vậy để việc học đạt hiệu quả cao bạn phải biết cách tự kiểm tra kiến thức của mình bằng cách như: Tự làm bài kiểm tra ngắn, liệt kê những nội dung chính, vẽ biểu đồ, bản đồ tư duy… Việc kiểm tra lại kiến thức cũng là cách bạn một lần nữa cũng cố lại những gì đã học được, những gì còn mơ hồ cần phải học thêm.

Học cách ghi nhớ

Bạn cần phải biết được thói quen học của mình như thế nào để có cách ghi nhớ hiệu quả nhất. Mỗi người sẽ có cách ghi nhớ khác nhau, có người sẽ viết lại nhiều lần ra giấy, liệt kê những nội dung chính, có người sẽ đọc thật to, có người chỉ đọc thầm… miễn sao có thể nhớ được kiến thức đó. Hãy thử tất cả những cách trên xem cách nào giúp bạn ghi nhớ nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nếu không có cách nào phù hợp bạn hãy tìm cho mình cách ghi nhớ khác nhé.

Chọn lọc thông tin, kiến thức

Mỗi ngày bạn sẽ tiếp nhận rất nhiều thông tin, kiến thức khác nhau từ thầy cô, sách vở, các loại tài liệu tham khảo… Nếu không có kỹ năng chọn lọc thông tin, kiến thức sẽ khiến cho bạn bị nhấn chìm trong một mớ b**g b**g của quá nhiều kiến thức khác nhau. Hãy biết cách chọn lọc những thông tin, kiến thức quan trọng, cần thiết và ghi nhớ lại chúng. Đừng cố nhớ quá nhiều thứ hỗn độn trong đầu, điều đó sẽ khiến cho bạn cảm thấy việc học thật sự rất đáng sợ và tồi tệ.

Hiểu sâu và thường xuyên ôn lại

Đây là hai kỹ năng bạn cần rèn luyện để việc học và tự học của bạn đạt hiệu quả cao nhất. Việc hiểu sâu những kiến thức sẽ giúp bạn luôn nhớ và biết cách áp dụng chúng vào từng hoàn cảnh như thế nào cho phù hợp. Ngoài ra bạn cũng cần thường xuyên ôn lại những gì đã học, nếu không những gì bạn đã học được sẽ dần bị lãng quên theo thời gian. Đừng chủ quan nghĩ rằng bạn vẫn nhớ như in những gì đã học được, nếu không bạn sẽ phải ân hận đấy.

Học và tự học là cách duy nhất để mỗi chúng ta trau dồi kiến thức cho bản thân. Dù còn ngồi trên ghế nhà trường hay đã đi làm, bạn cũng đừng quên việc học nhé. Hãy luôn rèn luyện cho mình kỹ năng học và tự học mọi lúc, mọi nơi để có thật nhiều kiến thức phục vụ cho cuộc song cũng như công việc của chính mình và trở thành người có ích cho xã hội.

Thúy Lộc

04/04/2016

YÊU CẦU CHO VIỆC HỌC TỐT

1- Vạch kế hoạch:
Học tập và làm việc có hệ thống. Nghiên cứu điều gì nên làm trước, điều gì làm sau. Nếu bạn bỏ ra 1 giờ để vạch kế hoạch bạn sẽ tiết kiệm được 3 giờ khi thực hiện nó.

2- Học vào lúc bạn cảm thấy có lợi nhất cho môn học:
Nếu đó là bài giảng vǎn, bạn hãy học ngay sau khi nghe giảng bài. Nếu đó là bài học thuộc lòng hoặc trả lời câu hỏi, hãy học trước khi lên lớp. Sau khi nghe giảng, bạn hãy xem lại, chọn lại và tổ chức ghi chép. Trước khi trả bài miệng, bạn dùng thì giờ để học thuộc lòng, xem lại các dữ kiện (nhất là đối với các môn XH), chuẩn bị câu hỏi cho bài cũ. Việc đặt câu hỏi là một kỹ thuật tốt để giúp đào sâu vẫn đề và đưa ra các phần bạn cần nghiên cứu thêm.

3- Hiểu rõ các ghi chép:
Tìm ra các ý tưởng quan trọng mà thầy cô đã nhấn mạnh. Lưu ý các từ "cho nên, vì vậy" và "chủ yếu", "điều quan trọng" mà thầy cô đã tóm tắt.

4- Học một cách chủ động chứ không thụ động:
Không nên đọc đi đọc lại một câu như vẹt. Hãy dùng nhiều giác quan khi học. Cố gắng cho đầu óc bạn nhìn thấy được.
a- Sử dụng âm thanh: Đọc các chữ to giọng và lắng nghe chúng.
b- Sử dụng sự liên tưởng: Liên tưởng điều đang học với điều gì quan trọng có liên quan.

5- Ghi chú cẩn thận:
Nó sẽ đòi hỏi bạn suy nghĩ theo lối phân tích. Ghi ngắn, đủ dữ liệu sẽ tốt hơn là viết tất cả mọi điều ghi được vì bạn không còn thời gian để phân tích rồi tổng hợp lại.

6- Luôn học tại bàn:
Thái độ này chuẩn bị cho bạn cả hai ưu thế trí tuệ lẫn thể hình. Không được nằm dài trên giường để học bởi bạn sẽ ngủ quên lúc nào không biết. Lâu dần nằm học sẽ tạo thói quen lười biếng

(sưu tầm)

04/04/2016

8 QUY LUẬT CỦA TRÍ NHỚ

1. Quy luật nhận biết:
Một quy luật tưởng chừng như đơn giản nhất nhưng lại rất quan trọng. Trí nhớ càng sâu sắc khi con người nắm chắc những gì đã biệt, dễ dàng nhớ đến mức chi tiết về những điều còn đọng lại trong đầu.

2. Quy luật hứng thú:
Sự hứng thú về khẩu vị giúp trí thức bột phát tái hiện trên màn ảnh trí tuệ như thể các nhân vật kịch xuất hiện trên sân khấu mà không cần đền một nỗ lực đặc biệt nào.

3. Quy luật tích luỹ:
Càng hiểu biết về một vấn đề cụ thể thì con người càng dễ dàng nhớ lại tất cả những thông tin mới phù hợp với vấn đề ấy. Cần lưu ý là: khi mở một quyển sách ra để đọc phải coi như mới đọc lần đầu. Bởi lẽ khi ta đọc lần đầu, ta chưa có được những thông tin, những kiến thức cần thiết cho nhu cầu tìm hiểu. Đọc lần đầu là công việc tích luỹ. Đọc lần sau là mới có sự điều chỉnh mới. Đây là mối quan hệ giữa vốn cũ với hiểu biết mới là công việc để trí nhớ hoá kiến thức.

4. Quy luật nhớ có ý thức:
Việc chuẩn bị để trí nhớ hoá là quan trọng. Người đọc hệ thống hoá thông tin từ các sách vở, các tài liệu. Xuất phát từ sách vở để khai thác thông tin. Thông tin là con đẻ của sách vở. Đây là cách làm cho bộ nhớ vững bền. Thông thường khi ta muốn nhớ lại điều gì đã xa xưa thì những chi tiết cụ thể dễ nhớ hơn là những điều tóm tắt.

5. Quy luật liên kết:
Quy luật này được Aristot phát hiện từ thê kỷ thứ 4 trước công nguyên. Những khái niệm khoa hạc thường phát sinh do sự mời chào lẫn nhau giá cái nọ với cái kia trong kho tri thức của bộ óc và chúng liên kết với nhau để phát kiến ra những khái niệm. Chẳng hạn, cảnh quan của một cǎn phòng gợi nhớ các sự kiện đã xảy ra trong đó (hoặc nhớ lại những điều gì anh đã đọc ở đó và cái ấy lại tái hiện đúng hẹn theo nhu cầu ta cần nó).

6. Quy luật nối tiếp liên tục:
Ta có thể đọc dễ dàng hệ thống chữ cái khi đọc xuôi nhưng thật khó khǎn khi đọc ngược. Những tri thức khoa học, những khái niệm có được là do từng sự nối tiếp cụ thể. Do vậy khi muốn nhớ lại phải đặt chúng trong từng hoàn cảnh nối tiếp cụ thể mà ta đã tích luỹ được.

7. Quy luật ấn tượng mạnh mẽ.
thường sức mạnh của ấn tượng đầu tiên về một cái gì đều tồn tại ở trong trí nhớ. Ấn tượng càng mạnh thì hình ảnh càng sáng. Càng có nhiều kênh thông tin thì càng tạo ra sức mạnh duy trì những thông tin ấy. Vì thế cần lưu giữ tất cả những ấn tượng ban đầu mà mạnh nhất có quan hệ đến vấn đề ta có nhu cầu nghiên cứu.

8.Quy luật kiểm tra:
Hệ quả của trí nhớ hoá là công việc kiểm tra sự hiểu biết trước đây khi tìm hiểu các thông tin mới. Tỷ trọng khối lượng của các thông tin cũ phải được xử lý ổn định trước khi tiếp nhận các thông tin mới. Cách tốt nhất để "Vật chất hoá" các tri thức trong bộ nhớ là ghi nhớ có hệ thống những hiện tượng, sự kiện của cái cũ đang ở thế phát triển

(sưu tầm)

31/03/2016

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN NĂNG KHIẾU MẦM NON
28/03/2016 admin 0 Comment
Nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo về các môn năng khiếu cho trường mầm non, Trung tâm hỗ trợ và tư vấn giáo dục CASA tuyển dụng:

1. CÁC VỊ TRÍ CẦN TUYỂN DỤNG

Giáo viên giảng dạy một hoặc nhiều hơn các môn năng khiếu mầm non sau:

– Tiếng anh

– Múa – Aerobic

– Kỹ năng sống

– Đàn và cảm thụ âm nhạc

– Bàn tính thông minh

– Võ thuật

– Mỹ thuật

– Yoga kids

2. CÁC TIÊU CHÍ TUYỂN DỤNG

– Số lượng cần tuyển: 15

– Kinh nghiệm: Đã từng giảng dạy các môn trên (Ưu tiên giáo viên đã từng giảng dạy những môn trên cho trường mầm non)

– Yêu cầu bằng cấp: Trung cấp – Cao đẳng – Đại học

– Ngành nghề: Giáo dục – Đào tạo

– Địa điểm làm việc: Làm việc tại Hà Nội

– Chức vụ: Chuyên viên – Nhân viên

– Hình thức làm việc: Theo hợp đồng tư vấn

– Thời gian thử việc: 1 tháng

– Yêu cầu giới tính: Không yêu cầu

– Yêu cầu độ tuổi: Không yêu cầu độ tuổi

– Một số yêu cầu khác:

+ Tính cách vui vẻ, hòa đồng, thân thiện.
+ Không nói ngọng, không nói lắp, không nói giọng địa phương,…
+ Có khả năng thu hút trẻ.

3. QUYỀN LỢI ĐƯỢC HƯỞNG

– Lương (Theo thỏa thuận) + Thưởng (Theo năng lực)

– Được làm việc trong môi trường trẻ trung, năng động, thân thiện, có cơ hội thăng tiến.
– Được tham gia các khóa đào tạo nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng giảng dạy.
– Được tham gia vào môi trường văn hóa trẻ, sôi nổi với nhiều hoạt động.

4. MÔ TẢ CÔNG VIỆC

– Xây dựng chương trình và giáo án giảng dạy theo yêu cầu của Trung tâm

– Tham gia hoạt động giảng dạy của Trung tâm

– Tham gia các chương trình huấn luyện phát triển bản thân của Trung tâm

– Tham gia các hoạt động khác của Trung tâm (nếu có)

5. HỒ SƠ

Hồ sơ tuyển dụng bao gồm:

– 01 Đơn xin việc: Có dán ảnh và đóng dấu giáp lai của chính quyền địa phương nơi cư trú.

– 01 bản Sơ yếu lý lịch: Ghi đầy đủ thông tin cá nhân và nhân thân, có đóng dấu giáp lai ảnh và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú.

– 01 bản Chứng minh thư nhân dân photo có công chứng.

– 01 bản Giấy khám sức khỏe: Có thời hạn không quá 6 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ.

– 01 bản sao Giấy Khai sinh.

– 01 bản văn bằng, chứng chỉ photo công chứng (nếu có).

– CV mô tả quá trình học tập và làm việc

6. THÔNG TIN LIÊN HỆ

Ứng viên gửi hồ sơ trực tiếp tại Trung tâm CASA – Tầng 4, Số 9 Hồ Tùng Mậu, Cầu Giấy, Hà Nội.

Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ: Ms. Nguyễn Thị Thao

SĐT: 0462918802/ 0984785951

Email: [email protected]

Các nhà tâm lý học đã xác định được phương pháp học tập tốt nhất – Scientific American, An Khương dịchby NPV • 04/09/201...
24/03/2016

Các nhà tâm lý học đã xác định được phương pháp học tập tốt nhất – Scientific American, An Khương dịch
by NPV • 04/09/2013
Bài viết này (Psychologists Identify the Best Ways to Study) là bản do các tác giả tóm tắt công trình của mình (Improving Students’ Learning With Effective Learning Techniques Promising Directions From Cognitive and Educational Psychology) và đăng trên Scientific American số 29 tháng 8, 2013

Tác giả: John Dunlosky , Katherine A. Rawson , Elizabeth J. Marsh , Mitchell J. Nathan và Daniel T. Willingham.

An Khương chọn dịch.

***

Làm thế nào để phân biệt được phương pháp học tập nào thật sự hữu ích hay chỉ tổ làm bạn lãng phí thời gian? Một nghiên cứu mới đây lần đầu tiên chỉ ra phương cách tốt nhất để thu nạp kiến thức.

Giáo dục thường tập trung vào nội dung bạn cần học, chẳng hạn như môn đại số, hay các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hóa học, hoặc làm thế nào để chia động từ. Tuy nhiên nếu học được cách học hiệu quả có thể cũng sẽ quan trọng không kém vì nó sẽ đem lại ích lợi cả đời cho người học. Học đúng phương pháp có thể giúp bạn tiếp thu kiến thức nhanh hơn, hiệu quả hơn, khiến bạn có thể ghi nhớ thông tin trong nhiều năm thay vì chỉ nhiều ngày.

Trong hơn 100 năm qua, các nhà tâm lý học giáo dục và tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu và đánh giá rất nhiều phương pháp học tập khác nhau, từ cách đọc đi đọc lại đến cách tóm tắt kiến thức cho đến phương pháp tự kiểm tra. Một số chiến lược học tập phổ biến đã giúp cải thiện rõ rệt thành tích của người học, trong khi những chiến lược khác chỉ làm tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy nhiên, thông tin này chưa được phổ biến đến người học và người dạy. Ngày nay, giáo viên không được nói cho biết các phương pháp học tập nào là hiệu quả dựa trên chứng cứ thực nghiệm, và học sinh cũng không được dạy cho cách sử dụng những phương pháp học tập tốt. Trong thực tế, hai phương pháp hỗ trợ học tập mà người học sử dụng nhiều nhất hóa ra lại không hiệu quả. Một trong số chúng thậm chí có thể làm giảm đi kết quả học tập.

Một lý do chủ yếu cho hiện tượng nói trên là có một lượng rất lớn các nghiên cứu về vấn đề này, đến nỗi gây khó khăn cho các nhà giáo dục và cho người học trong việc xác định được phương cách học tập thiết thực và thuận lợi nhất. Để vượt qua thách thức này, chúng tôi đã xem xét hơn 700 bài báo khoa học về 10 phương pháp học tập phổ biến. Chúng tôi tập trung vào các chiến lược học tập dường như dễ sử dụng và có hiệu quả rộng rãi. Trong đó, chúng tôi xem xét kỹ hơn đến một vài phương pháp rất phổ biến với người học.

Chúng tôi chỉ khuyến nghị các phương pháp sao cho chúng phải có ích trong nhiều điều kiện học tập khác nhau, chẳng hạn như khi sinh viên làm việc một mình hoặc trong một nhóm. Ngoài ra, chúng phải hỗ trợ được cho học viên ở nhiều độ tuổi, khả năng và trình độ khác nhau. Và nhất là chúng phải được kiểm nghiệm thực tế. Học viên có thể sử dụng những phương pháp này để làm chủ kiến thức trong nhiều môn học, và thành tích học tập của họ sẽ được cải thiện theo mọi tiêu chuẩn đánh giá. Các phương pháp học tập tốt nhất cũng sẽ có tác dụng lâu dài trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cho người học.

Sử dụng các tiêu chí này, chúng tôi xác định hai phương pháp có hiệu quả nổi trội. Chúng có hiệu quả ổn định và lâu dài cho nhiều điều kiện học tập khác nhau. Hơn ba phương pháp khác cũng được khuyến nghị trong một số điều kiện học tập nhất định, và năm phương pháp khác – bao gồm hai phương pháp học tập phổ biến – là không được khuyến nghị sử dụng. Hoặc là bởi vì chúng chỉ có ích trong một số trường hợp rất hạn chế, hoặc là vì chúng tôi không đủ chứng cứ để đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu một số phương pháp khác chưa được chúng tôi kiểm tra, nhưng học viên và giáo viên nên thận trọng khi áp dụng chúng.

Hai phương pháp vàng

1. Phương pháp tự kiểm tra (Self-Testing): Tự kiểm tra đem lại điểm cao.

Mô tả phương pháp: Không giống như một bài kiểm tra chính thức để đánh giá kiến thức, tự kiểm tra là việc người học tự thực hành để kiểm tra chính mình, ở bên ngoài lớp học. Phương pháp này có thể bao gồm việc sử dụng các tấm bìa (bằng giấy hoặc điện tử) để kiểm tra việc nhớ lại hoặc trả lời các bài tập ở cuối một chương sách. Mặc dù hầu hết học sinh đều muốn làm kiểm tra ít chừng nào tốt chừng ấy, hàng trăm thí nghiệm cho thấy rằng tự kiểm tra giúp cải thiện việc học và giúp ghi nhớ được lâu.

Trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học được yêu cầu ghi nhớ các cặp từ, một nửa trong số đó sau đó được tham gia một bài kiểm tra khả năng nhớ lại. Một tuần sau, các sinh viên này nhớ được 35% các cặp từ trong bài kiểm tra, so với chỉ có 4% đối với những sinh viên không tham gia kiểm tra. Trong một thí nghiệm khác, các sinh viên đại học được tiếp xúc với một bản dịch từ tiếng Swahili sang tiếng Anh. Tiếp theo, họ dùng phương pháp tự kiểm tra để học một phần văn bản, phần văn bản còn lại chỉ được họ đọc lại. Sinh viên nhớ lại được 80% trong phần mà họ đã học bằng cách tự kiểm tra nhiều lần, so với chỉ có 36% cho phần mà họ chỉ đọc lại. Giả thuyết của chúng tôi là việc tự kiểm tra thực hành sẽ giúp tạo nên quá trình tìm kiếm trong não bộ liên quan đến khả năng ghi nhớ dài hạn để kích hoạt các thông tin liên quan, qua đó hình thành nhiều lối mòn ghi nhớ, giúp truy cập thông tin dễ dàng hơn.

Lứa tuổi nào có thể sử dụng phương pháp này? Bất cứ ai từ trẻ mẫu giáo đến sinh viên y khoa năm thứ tư cho đến người có tuổi trung niên đều được lợi khi sử dụng phương pháp tự kiểm tra này. Nó có thể áp dụng được cho tất cả các loại thông tin không trừu tượng, bao gồm việc học ngữ vựng, lập danh sách chính tả, và ghi nhớ các bộ phận của hoa. Thậm chí nó còn cải thiện được khả năng nhớ lâu cho những người bị bệnh Alzheimer. Tóm lại, phương pháp tự kiểm tra một cách thường xuyên có hiệu quả nhất trong việc học, đặc biệt là khi người học nhận được thông tin phản hồi cho các câu trả lời đúng của họ.

Phương pháp tự kiểm tra cũng hoạt động tốt ngay cả khi thể thức của các bài kiểm tra khi thực hành khác với các bài kiểm tra chính thức. Tác dụng có lợi của phương pháp này có thể kéo dài từ nhiều tháng cho đến nhiều năm.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có”. Nó chỉ cần một lượng thời gian khiêm tốn và người học cần được huấn luyện một ít hoặc thậm chí không không cần.

Sử dụng phương pháp này như thế nào? Người học có thể dùng các tấm bìa để tự kiểm tra hoặc sử dụng hệ thống Cornell như sau: Trong quá trình ghi bài trên lớp, hãy tạo ra một cột bên một lề của trang để ghi ra các từ khóa hoặc câu hỏi. Sau đó bạn có thể tự kiểm tra bằng cách duyệt lại các ghi chép này và trả lời các câu hỏi (hoặc giải thích các từ khóa) được ghi bên lề.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc tự kiểm tra có thể thực hiện được một cách rộng rãi trên nhiều thể thức, nội dung, lứa tuổi, và khoảng thời gian cần ghi nhớ.

2 . Phương pháp phân bổ thời gian ôn tập (Distributed Practice): Để đạt kết quả tốt nhất, hãy giãn rộng thời gian học của bạn ra.

Mô tả phương pháp: Học sinh thường tập trung học nhồi ngay trước khi có bài thi hoặc kiểm tra. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy việc phân phối thời gian học tập hợp lý sẽ hiệu quả hơn nhiều. Trong một thí nghiệm kinh điển, học sinh được học các từ tiếng Anh được dịch ra từ các từ trong tiếng Tây Ban Nha, sau đó ôn lại trong sáu phiên. Một nhóm đã ôn trong các phiên liên tiếp nhau, một nhóm ôn các phiên cách ngày và một phần ba số học sinh còn lại đã ôn các phiên cách nhau 30 ngày. Các học sinh trong nhóm cuối nhớ bản dịch tốt nhất. Trong một phân tích 254 nghiên cứu được thực hiện liên quan đến hơn 14.000 người tham gia, sinh viên nhớ lại được nhiều hơn khi phân bổ thời gian học cách quãng (nhớ được 47% của toàn bộ) so với việc học dồn (nhớ được 37%).

Lứa tuổi nào có thể thực hiện được phương pháp này? Phương pháp này giúp ích được cho cả trẻ ba tuổi, lẫn sinh viên đại học và cả người lớn tuổi hơn. Việc phân phối thời gian học hợp lý có hiệu quả cao cho việc học ngữ vựng, học định nghĩa của từ, và thậm chí cả việc học các kỹ năng như toán học, âm nhạc và phẫu thuật.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có.” Mặc dù sách giáo khoa thường gộp các bài tập lại với nhau theo chủ đề, bạn có thể ngắt chúng ra theo cách của mình. Bạn sẽ phải lên kế hoạch trước, và phải vượt qua được trở ngại chung của người học là xu hướng hay trì hoãn việc ôn bài.

Sử dụng phương pháp như thế nào? Khoảng cách lâu hơn giữa các lần ôn bài thường có hiệu quả cao hơn. Trong một nghiên cứu, khoảng cách 30 ngày cải thiện kết quả nhiều hơn so với việc ôn bài vất vả cách ngày. Trong một nghiên cứu dựa trên Internet về việc học ngữ pháp, tu từ và logic, kết quả cao nhất đạt được khi các phiên ôn bài cách nhau khoảng từ 10 đến 20% của khoảng thời gian mà người học cần phải nhớ được kiến thức. Để nhớ một điều gì đó trong một tuần, các phiên học ôn nên cách nhau từ 12 đến 24 giờ đồng hồ. Để nhớ một điều gì đó trong năm năm, các phiên học nên cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Mặc dù không có vẻ gì là như thế, nhưng thực sự là bạn có thể ghi nhớ được thông tin ngay cả trong những khoảng thời gian dài, và bạn có thể học lại một cách nhanh chóng những gì bạn đã quên. Khoảng cách dài giữa các lần ôn bài là lý tưởng để nhớ được các khái niệm cơ bản làm cơ sở cho kiến thức nâng cao.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc phân phối thời gian học ôn hợp lý sẽ có hiệu quả cho người học ở nhiều độ tuổi khác nhau trong việc học tập ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nó rất dễ thực hiện và đã được sử dụng thành công trong thực tiễn.



Các phương pháp hạng nhì

Không như những gì được nói, các phương pháp học tập sau đây có hiệu quả thấp, trong nhiều trường hợp bởi vì không đủ bằng chứng tích lũy hỗ trợ cho chúng. Một số phương pháp, chẳng hạn như phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation), hay phương pháp tự giải thích (self-explanation), chưa được đánh giá trong các tình huống giáo dục thực tế. Một phương pháp khác đang nổi lên, được gọi là phương pháp thực hành xen kẽ (interleaved practice), chỉ vừa mới bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống. Tuy nhiên, những phương pháp này cho thấy chúng cũng có hiệu quả đủ tốt để chúng tôi khuyến khích sử dụng trong những tình huống được mô tả ngắn gọn ở đây.

3 . Phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation): Khởi nguồn từ bản tính tò mò của trẻ 4-5 tuổi.

Mô tả phương pháp: Tò mò là bản năng tự nhiên của con người, chúng ta luôn tìm kiếm những kiến giải về thế giới xung quanh mình. Một số lượng lớn các bằng chứng cho rằng thấy rằng gợi ý người học trả lời các câu hỏi “Tại sao?” cũng làm cho việc học tập dễ dàng hơn.

Trong phương pháp này, thường được gọi là phương pháp “hỏi đáp chi tiết” (elaborative interrogation), người học đưa ra câu trả lời cho các sự kiện, chẳng hạn như “Tại sao điều này có nghĩa là …?” hoặc ” Tại sao điều này lại đúng?” Chẳng hạn, trong một thí nghiệm, học sinh đọc được câu “người đàn ông đói bụng đã ngồi vào xe.” Các thành viên của nhóm hỏi đáp chi tiết được yêu cầu giải thích lý do tại sao, trong khi nhóm khác đã được cung cấp sẵn một lời giải thích, chẳng hạn như “người đàn ông đói bụng đã lên xe để đi đến nhà hàng.” Nhóm thứ ba chỉ đơn giản là đọc từng câu trên. Khi được yêu cầu nhớ lại ai đã làm gì (“Ai đã lên xe?”), trong nhóm hỏi đáp chi tiết có khoảng 72% học sinh trả lời đúng so với khoảng 37% trong các nhóm khác.

Nên sử dụng khi nào? Khi mà bạn đang học về những thông tin không trừu tượng, đặc biệt là khi bạn đã có hiểu biết về chủ đề này. Sức mạnh của phương pháp này tăng lên cùng với lượng kiến thức mà bạn biết về chủ đề. Chẳng hạn, học sinh ở CHLB Đức sử dụng phương pháp này hiệu quả hơn khi học về các tiểu bang của Đức so với khi học về các tiểu bang của Canada. Có thể là vì kiến thức có trước về chủ đề cho phép người học đưa ra lời giải thích phù hợp hơn cho lý do tại sao một điều gì đó đã xảy ra.

Tác dụng của phương pháp này có vẻ ổn định theo tuổi tác, từ học sinh lớp bốn cho đến sinh viên đại học. Phương pháp hỏi đáp chi tiết cải thiện rõ ràng việc ghi nhớ các sự kiện, nhưng vẫn chưa chắc chắn rằng liệu nó có làm tăng mức độ hiểu sâu hay không, và không có thông tin kết luận về việc hiến thức được ghi nhớ kéo sẽ dài bao lâu.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là “Có.” Nó chỉ cần việc huấn luyện ở mức tối thiểu và thời gian tiêu tốn là ở mức hợp lý. Trong một nghiên cứu, một nhóm hỏi đáp chi tiết cần 32 phút để làm một nhiệm vụ mà một nhóm chỉ đọc cần 28 phút.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả vừa phải. Nó áp dụng được cho khá nhiều chủ đề khác nhau, nhưng có thể không hữu ích lắm đối với các chủ đề trừu tượng. Đối với người học chưa có kiến thức trước về chủ đề đang học thì lợi ích của phương pháp có thể bị hạn chế. Nghiên cứu thêm về phương pháp này là cần thiết để xác định xem liệu nó có thể áp dụng rộng rãi hơn vào các tình huống khác nhau, và các loại thông tin khác nhau nữa hay không.

4 . Phương pháp Tự Giải thích (Self-Explanation): Làm sao tôi biết?

Mô tả phương pháp: Người học phải đưa ra lời giải thích cho những gì họ học, xem xét quá trình tư duy đối với những câu hỏi kiểu như “Câu văn này cung cấp thông tin mới gì cho bạn?” “Nó có liên quan như thế nào đến những gì bạn đã biết?” Tương tự như phương pháp nêu câu hỏi và trả lời, phương pháp tự giải thích có thể giúp tích hợp hiệu quả thông tin mới học được với kiến thức đã có sẵn.

Lứa tuổi nào sử dụng được? Phương pháp này mang lại lợi ích cho người học từ bậc mẫu giáo cho đến sinh viên đại học, và giúp ích cho việc giải toán cũng như giải các câu đố cần suy luận logic. Nó có thể được dùng để học các chuyện kể cũng như học để thông thạo các chiến lược tàn cục trong cờ vua. Ở trẻ em, phương pháp tự giải thích có thể giúp ích trong việc học những khái niệm căn bản như việc học các con số hoặc hình mẫu. Phương pháp này cũng giúp cải thiện trí nhớ, giúp hiểu sâu và giúp giải quyết vấn đề – tác dụng của nó rất đa dạng. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chỉ đo các tác dụng chỉ trong vòng vài phút, và ta không biết liệu hiệu quả của nó có kéo dài được lâu hơn đối với những người kiến thức hơn cao hoặc thấp hơn hay không.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là không rõ ràng. Một mặt, hầu hết người học chỉ cần được hướng dẫn ở mức tối thiểu và thực hành ít hoặc không cần. Một bài kiểm tra của học sinh lớp chín cho thấy rằng những học sinh không được huấn luyện có xu hướng chỉ diễn giải lại điều được học chứ không phải là đưa ra lời giải thích thật sự. Mặt khác, một vài nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian, tăng nhu cầu thời gian từ 30 đến 100% so với các phương pháp khác.

Đánh giá: Phương pháp tự giải thích có lợi ích vừa phải. Nó áp dụng được cho các môn học khác nhau và cho nhiều độ tuổi khác nhau đáng kể. Các nghiên cứu tiếp theo phải xác định được xem liệu những tác dụng của phương pháp này có lâu bền, và thời gian tiêu tốn nhiều cho nó là có đáng giá hay không.

5 . Thực hành xen kẽ (Interleaved Practice): Trộn táo với cam

Mô tả phương pháp: Một cách trực quan, người học thướng có xu hướng chia việc học ra thành các khối kiến thức, hoàn thành xong việc học một chủ đề hoặc một dạng bài tập trước khi chuyển sang phần tiếp theo. Nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra lợi ích của phương pháp thực hành xen kẽ. Trong đó, học viên sẽ học luân phiên các chủ đề hay các dạng bài toán khác nhau. Chẳng hạn trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học đã học cách tính thể tích của bốn dạng vật thể khác nhau. Đối với phương pháp chia việc học thành khối kiến thức, họ phải hoàn thành tất cả các bài tập đối với một dạng vật thể trước khi chuyển sang dạng vật thể tiếp theo. Trong phương pháp thực hành xen kẽ, các bài toán về 4 dạng đã được trộn xen kẽ với nhau. Trong bài kiểm tra thực hiện một tuần sau đó, nhóm sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ làm chính xác hơn 43% so với nhóm học theo phương pháp chia khối kiến thức. Việc học xen kẽ các kiến thức giúp người học có được kĩ năng lựa chọn phương pháp phù hợp và khuyến khích họ so sánh các dạng bài tập khác nhau.

Khi nào nên sử dụng phương pháp này? Khi các dạng bài tập tương tự nhau, có lẽ là vì bằng cách để chúng ở gần nhau thì dễ thấy sự khác biệt giữa chúng hơn. Phương pháp thực hành theo khối kiến thức – làm việc trên tất cả các bài toán cùng vào một chủ đề – có thể hiệu quả hơn khi mà các bài toán có sự khác nhau nhiều, bởi vì khi đó nó làm nổi bật những điểm chung giữa chúng.

Phương pháp thực hành xen kẽ có thể chỉ mang lại lợi ích những người đã đạt đến một trình độ nhất định. Tác dụng của phương pháp này cũng lẫn lộn cho nhiều loại nội dung học tập khác nhau. Nó giúp cải thiện kết quả học tập đối với các bài toán đại số, và có hiệu quả đối với một nghiên cứu trong việc đào tạo sinh viên y khoa khả năng diễn giải kết quả chẩn đoán chứng rối loạn tim mạch. Có hai nghiên cứu về việc học ngữ vựng cho thấy phương pháp này không có hiệu lực mấy. Tuy nhiên, với những khó khăn mà nhiều học sinh gặp phải ở môn toán, phương pháp này vẫn có thể là một chiến lược học tập rất có giá trị cho riêng môn này.

Nó có dễ thực hiện không? Câu trả lời có vẻ là “Có.” Một sinh viên có động cơ học tập có thể dễ dàng sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ mà không cần bất kỳ hướng dẫn nào. Giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp này trong lớp học: Sau khi đưa ra một dạng bài tập (hoặc chủ đề), bước thực hành đầu tiên của phương pháp tập trung vào dạng bài đó. Ngay khi đưa ra dạng tiếp theo, cần trộn lẫn bài tập dạng này với bài tập của dạng trước. Phương pháp này có thể tốn nhiều thời gian hơn một chút so với phương pháp chia khối kiến thức, nhưng như thế vẫn đáng giá, vì nó giúp nâng cao thành tích học tập.

Đánh giá: Phương pháp thực hành xen kẽ có tác dụng vừa phải. Nó giúp cải thiện việc học tập và ghi nhớ các kiến thức toán học, và tăng cường các kỹ năng nhận thức khác. Mặc dù lượng tài liệu về phương pháp này là ít, nhưng trong đó cũng đã có đủ kết quả tiêu cực để ta cần phải bận tâm khi sử dụng nó. Có thể là phương pháp này không hoàn toàn tốt, hoặc có lẽ không phải lúc nào nó cũng được sử dụng một cách thích hợp – đây là những đề tài cho nghiên cứu tiếp theo.

Bài học rút ra

Tại sao người học không sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả hơn? Có vẻ như họ đã không được dạy những chiến lược tốt nhất, và cũng có lẽ vì bản thân người dạy cũng không được đào tạo về các phương pháp đó. Chúng tôi đã khảo sát sáu cuốn sách giáo khoa tâm lý giáo dục học, và thấy rằng chỉ có một phương pháp – “học thuộc các từ khóa” – được xét đến trong mỗi cuốn. Không ai được hướng dẫn nhiều về cách sử dụng, tính hiệu quả hoặc sự hạn chế của các phương pháp học tập khác nhau.

Vấn đề thứ hai có thể là vì hệ thống giáo dục nhấn mạnh vào việc dạy cho người học các kỹ năng tư duy phê phán, và nội dung kiến thức, dành ít thời gian cho việc dạy phương pháp học tập. Điều này dẫn đến kết quả có thể là những học sinh có thành tích tốt trong những năm đầu đời, khi việc học tập được giám sát chặt chẽ, có thể gặp khó khăn một khi họ sẽ phải tự quản lý việc học của mình ở trường trung học hoặc đại học.

Một số vấn đề, chẳng hạn như độ tuổi tốt nhất để học sinh bắt đầu sử dụng một phương pháp nào đó, và khoảng bao lâu họ sẽ cần phải được huấn luyện lại hoặc nhắc nhở về phương pháp, vẫn cần được nghiên cứu thêm. Nhưng ngay từ bây giờ, người dạy đã có thể tích hợp các phương pháp học tập thành công nhất vào trong giáo án để người học có thể theo đó mà sử dụng. Ví dụ, khi chuyển đến phần kiến thức mới, người dạy có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu người học làm một bài kiểm tra thực hành bao gồm những điểm quan trọng ở phần trước và phản hồi bài kiểm tra của người học ngay. Người học có thể chèn thêm vào giũa những bài toán mới các bài toán có liên quan ở trong các phần trước đó. Người dạy có thể khai thác phương pháp phân phối thời gian ôn tập hợp lý (distributed practice) bằng cách đưa ra lại các khái niệm chính trong quá trình dạy. Họ có thể giúp người học sử dụng phương pháp đặt câu hỏi và trả lời (explanatory questioning) bằng cách gợi cho người học xem xét trả lời cho những câu hỏi “Tại sao?”

Những phương pháp học tập này không phải phương thuốc chữa bá bệnh. Chúng chỉ đem lại lợi ích cho những người học có mục tiêu, và có khả năng sử dụng chúng. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng người học sẽ thu được nhiều ích lợi trong hoạt động trên lớp, trong các bài kiểm tra, và trong suốt cuộc đời họ.

Nguồn: http://psi.sagepub.com/content/14/1/4.full?ijkey=Z10jaVH/60XQM&keytype=ref&siteid=sppsi

Address

Hanoi

Telephone

0984785951

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phương pháp học tập mới có hiệu quả posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Phương pháp học tập mới có hiệu quả:

Share