27/06/2026
ỨNG DỤNG KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐA KHÁNG
Người dịch: Nguyễn Nhật Huy - DCQ2025
Tình trạng lạm dụng kháng sinh đang ngày càng dẫn đến sự xuất hiện của các siêu vi khuẩn gây bệnh - những loại vi khuẩn nguy hiểm đã phát triển khả năng đề kháng kháng sinh (AMR), khiến chúng trở nên khó tiêu diệt hơn rất nhiều, thậm chí không thể loại trừ khỏi cơ thể. Trong một bài tổng quan được xuất bản trên tạp chí Trends in Immunology của Cell Press vào ngày 27 tháng 5, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh triển vọng của việc sử dụng kháng thể đơn dòng ở người (mAbs) để cải thiện hiệu quả điều trị ở bệnh nhân và đối phó với tình trạng AMR.
Chia sẻ về kết quả nghiên cứu, ông Rino Rappuoli, tác giả liên hệ của bài báo, thuộc Viện Fondazione Biotecnopolo di Siena tại Ý, cho biết: "Chiến lược chỉ dùng các loại thuốc kháng sinh mới để khắc phục trình trạng AMR đã hoàn toàn thất bại và đang tạo ra các chủng vi khuẩn có khả năng kháng lại toàn bộ kháng sinh hiện có". Ông cho biết thêm: "Tình trạng AMR cần được giải quyết bằng nhiều chiến lược đa dạng, trong đó vắc-xin và mAbs là những công cụ mang lại nhiều hứa hẹn nhất."
mAbs là các protein miễn dịch nhân tạo với khả năng nhắm đến các protein trên tế bào người hoặc tế bào vi khuẩn. Trong vài thập kỷ qua, mAbs đã trở nên vô cùng quan trọng trong y học, với hơn 150 loại được phê duyệt để điều trị ung thư, các bệnh tự miễn, viêm nhiễm cùng các tình trạng bệnh lý khác. Các tác giả cho biết hiện tại chính là lúc cần tập trung phát triển mAbs có khả năng tác động đặc hiệu lên vi khuẩn nhằm điều trị các bệnh nhiễm trùng.
Rappuoli cho biết: “Có khá nhiều bằng chứng tiền lâm sàng thuyết phục cho thấy rằng mAbs có thể là một giải pháp trong trường hợp sử dụng kháng sinh không còn hiệu quả”.
Khác với các loại kháng sinh phổ rộng thường tiêu diệt cả vi khuẩn có lợi lẫn vi khuẩn gây hại, mAbs được thiết kế sao cho chỉ nhắm đến các vi khuẩn gây bệnh, từ đó bảo vệ hệ vi sinh vật trong cơ thể. mAbs kháng khuẩn cũng có thể chống lại các tình trạng nhiễm trùng kháng thuốc theo cơ chế mà kháng sinh không làm được, nhờ đó chúng vẫn có hiệu quả đối với những chủng vi khuẩn đề kháng kháng sinh thông thường. Ví dụ, chúng có thể ngăn vi khuẩn giải phóng độc tố, từ đó phòng ngừa các tổn thương do những độc tố này gây ra. Chúng cũng có khả năng “đánh dấu” vi khuẩn giúp hệ miễn dịch dễ dàng nhận diện hơn, đồng thời ngăn vi khuẩn bám vào hoặc xâm nhập các tế bào, ngăn chúng hình thành các màng biofilm - yếu tố làm giảm khả năng thâm nhập của kháng sinh thông thường .
Các nhà khoa học đang cải tiến mAbs bằng những công nghệ tiên tiến như thiết kế kháng thể, công nghệ truyền dẫn mRNA và trí tuệ nhân tạo. Một số nhà nghiên cứu thậm chí kết hợp kháng thể với các loại thuốc khác để tạo ra những liệu pháp điều trị nhắm trúng đích.
Nhóm tác giả hy vọng bài báo này sẽ giúp lan tỏa thông điệp đến các sinh viên, nhà khoa học, nhà đầu tư, bác sĩ lâm sàng và các nhà hoạch định chính sách về tiềm năng sử dụng mAbs để chống lại AMR. Đồng thời, họ cũng thừa nhận rằng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phát triển mAbs thành các loại thuốc hiệu quả để đối phó với AMR. Những công cụ nghiên cứu tiên tiến hơn, bao gồm huyết thanh người có chứa các tế bào miễn dịch phù hợp, cũng như các mô hình in vivo và in vitro thích hợp rất cần thiết cho quá trình phát triển trong tương lai.
Rappuoli cho biết: “Sau cùng, trở ngại quan trọng nhất trong việc biến mAbs thành các loại thuốc hiệu quả để điều trị AMR là sự thiếu vắng một thị trường đủ sức hấp dẫn cho các loại thuốc kháng khuẩn nói chung. Phần còn lại chính là chi phí đắt đỏ để phát triển mAbs,”
Ngoài ra, ông cũng chia sẻ thêm: “Chúng tôi đang nghiên cứu các phương pháp sản xuất kháng thể thay thế, nhằm rút ngắn thời gian phát triển và cắt giảm chi phí. Điều này sẽ giúp người dân trên toàn thế giới dễ dàng tiếp cận với các liệu pháp này hơn, chứ không chỉ riêng ở những quốc gia giàu có.”
Nguồn: Matteo Ridelfi, Vittoria Zucconi Galli Fonseca, Claudia Sala, Rino Rappuoli, “Human antibodies as emerging drugs for antimicrobial resistance”, May 27, 2026
Nguồn hình: Doi: 10.1016/j.it.2026.04.003