Cựu TNS Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM

Cựu TNS Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM Cựu Tăng Ni sinh viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Tp.HCM

Viện Nghiên cứu Phật học VN đề xuất dựng tượng Hòa thượng Thích Minh Châu tại Nava NalandaNgày 5-9, GS.TS Rajesh Ranjan,...
15/10/2024

Viện Nghiên cứu Phật học VN đề xuất dựng tượng Hòa thượng Thích Minh Châu tại Nava Nalanda
Ngày 5-9, GS.TS Rajesh Ranjan, Hiệu trưởng Nava Nalanda Mahavihara (Ấn Độ) đã có thư phúc đáp Hòa thượng Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN trao đổi về ý tưởng dựng tượng đài cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu trong khuôn viên của trường.
Trong thư nêu rõ, Hòa thượng Thích Giác Toàn có đề xuất dựng tượng đài của Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, dự kiến tượng cao 2m, trong khuôn viên Nava Nalanda Mahavihara - nơi ngài đã tốt nghiệp bằng Tiến sĩ Phật học vào năm 1961, nhân dịp sinh nhật lần thứ 106 của Hòa thượng Thích Minh Châu (1918-2012) để bày tỏ lòng tri ân sâu sắc, tôn vinh những thành tựu học thuật của ngài và làm biểu tượng cho mối quan hệ bền chặt giữa Ấn Độ và Việt Nam thông qua di sản chung của Phật giáo.
Về việc này, trong phiên họp của Nava Nalanda Mahavihara, Ban Giám hiệu, các giảng viên và nhân viên đều hoan nghênh. Bên cạnh đó, nhà trường có thống nhất đề nghị Hòa thượng Viện trưởng Học viện Phật giáo VN hỗ trợ xây dựng một trong hai công trình để vinh danh Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, cựu sinh viên lỗi lạc nhất của trường.

Trong thư phúc đáp đề nghị cụ thể Viện Nghiên cứu Phật học VN tài trợ xây dựng hội trường hội thảo có sức chứa 200 người mang tên “Hội trường Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu” và đặt tượng đài ở lối vào Hội trường theo mô hình Hội trường Tagore của Đại học Delhi.

Hoặc tài trợ xây dựng “Ký túc xá quốc tế” ban đầu có khoảng 20-25 phòng, được đặt theo tên của Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, tượng đài của ngài sẽ được đặt bên trong phòng sinh hoạt chung của Ký túc xá dành riêng cho sinh viên Việt Nam.

Khi một trong hai đề xuất trên được Hòa thượng Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN chấp nhận, Nava Nalanda Mahavihara sẽ quyết định phương án hành động tiếp theo để triển khai để hiện thực hóa và triển khai dự án sớm nhất có thể.
(GN)

Nghe pháp
28/09/2024

Nghe pháp

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ VIÊN TỊCHHòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị giáo phẩm uyên bác, dịch giả của nhiều bộ kinh, luậ...
24/11/2023

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ VIÊN TỊCH
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị giáo phẩm uyên bác, dịch giả của nhiều bộ kinh, luật, luận quan trọng; tác giả của các công trình nghiên cứu Phật học giá trị, sau thời gian bệnh duyên đã viên tịch tại chùa Phật Ân (tỉnh Đồng Nai) vào 16 giờ chiều nay, ngày 24-11-2023 (12-10-Quý Mão).
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, pháp húy Nguyên Chứng, sinh năm 1943 tại Paksé (Lào), nguyên quán tại tỉnh Quảng Bình.
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là đệ tử của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909-1984), Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Năm 12 tuổi, Hòa thượng từ Paksé về Sài Gòn, sau đó trở lại Huế, tu học tại chùa Từ Đàm với Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu (1921-2001), rồi vào học tại Phật học viện Trung phần Hải Đức (Nha Trang), Quảng Hương Già Lam (Sài Gòn).

Hòa thượng tốt nghiệp Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn (1964) do Hòa thượng Thích Nhất Hạnh (1926-2022) sáng lập; sau đó, tốt nghiệp phân khoa Phật học của Viện Đại học Vạn Hạnh khi chỉ mới 22 tuổi.
Năm 1970, với những công trình nghiên cứu, khảo luận có giá trị về Thiền học và Triết học Phật giáo, trong đó có tác phẩm đầu tay Đại cương về thiền quán và nổi bật hơn hết là Triết học về tánh Không, Hòa thượng được đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ Viện Đại học Vạn Hạnh do Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918-2012) làm Viện trưởng; là giáo sư trẻ nhất lúc bấy giờ.

Năm 1971, ngài được Hòa thượng Thích Minh Châu bổ nhiệm làm Tổng Thư ký tạp chí Tư Tưởng - cơ quan luận thuyết của Viện Đại học Vạn Hạnh. Bên cạnh đó, ngài cũng làm Thư ký tòa soạn, chủ bút, tham gia cộng tác với nhiều tờ báo, tạp chí nghiên cứu đương thời như: Vạn Hạnh, Hải Triều Âm, Khởi Hành, Thời Tập,…
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ được biết nổi tiếng về sự uyên bác, thông thạo nhiều loại cổ ngữ lẫn sinh ngữ như: Hán văn, Phạn văn, Tạng văn, tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga… Trong gần trọn cuộc đời, Hòa thượng dành phần lớn thời gian và tâm huyết của mình cho việc phiên dịch và chú giải kinh điển, đặc biệt là tạng kinh A-hàm. Các dịch phẩm nổi bật của Hòa thượng đã được xuất bản chính thức, đến với độc giả trong và ngoài nước.

Trong đó, có thể kể: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm - NXB Hồng Đức; A-tỳ-đạt-ma Câu Xá (5 tập) - NXB Hồng Đức; A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận - NXB Hồng Đức; A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận - NXB Hồng Đức; Duy-ma-cật sở thuyết - NXB Hồng Đức; Luận thành duy thức - NXB Hồng Đức; Tinh hoa triết học Phật giáo của Junjiro Takakusu - NXB Hồng Đức, Thiền luận của Daisetsu T.Suzuki (đồng dịch giả với Trúc Thiên, 3 tập) - NXB Tổng hợp TP.HCM (1992), NXB Tri Thức tái bản; Thiền & Bát-nhã - NXB Hồng Đức…
Bên cạnh đó, Hòa thượng còn trước tác, biên soạn và giới thiệu nhiều tác phẩm luận giải kinh điển, lịch sử và triết học Phật giáo,… được in thành sách và xuất bản, tái bản trong nước gần đây, như:
Triết học về tánh Không - NXB Hồng Đức; Tổng quan về nghiệp - NXB Đà Nẵng; Thiền định Phật giáo - NXB Đà Nẵng; Huyền thoại Duy-ma-cật - NXB Hồng Đức; Thắng Man giảng luận - NXB Hồng Đức; Du-già Bồ-tát giới - NXB Hồng Đức; Tô Đông Pha, Những phương trời viễn mộng - NXB Hồng Đức; Pháp diệt tránh - NXB Phương Đông; Giấc mơ Trường Sơn (thơ) - NXB Đà Nẵng; Thiên lý độc hành (thơ) - NXB Đà Nẵng; Hoàng cầm tình khúc (thơ) - NXB Hồng Đức…
Hòa thượng còn hiệu chính, chú thích bản Việt dịch Luật Tứ phần của Hòa thượng Thích Đỗng Minh, bản dịch Tăng-nhất A-hàm của Hòa thượng Thích Đức Thắng và chủ trì bản dịch của Phật điển phổ thông - Dẫn vào tuệ giác Phật... cũng đã được xuất bản trong nước.
Ngài còn đích thân giảng dạy các lớp học về Luật Tứ phần và các bộ kinh, luận Đại thừa cho chư Tăng và Phật tử tại Quảng Hương Già Lam cũng như một số nơi và qua phương thức trực tuyến.
Được biết, Hòa thượng đã được đưa từ bệnh viện về chùa Phật Ân vào sáng hôm qua, 23-11-2023. Báo Giác Ngộ sẽ cập nhật thông tin đến Tăng Ni, Phật tử và quý thiện hữu tri thức.
(Báo Giác Ngộ)

03/09/2023

LỄ TƯỞNG NIỆM 11 NĂM NGÀY TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU VIÊN TỊCH

TẮM TỪ MỞ RA - KHỔ ĐAU KHÉP LẠI Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy hận thù và sợ hãi bởi nạn khủng bố, bạo động v...
02/09/2023

TẮM TỪ MỞ RA - KHỔ ĐAU KHÉP LẠI
Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy hận thù và sợ hãi bởi nạn khủng bố, bạo động và chiến tranh không ngừng xảy ra hầu như mọi lúc và mọi nơi. Thực trạng thế giới mấy năm vừa qua khiến chúng ta không khỏi giật mình lo lắng bởi sự sống của con người thường xuyên bị tước đoạt, ước mơ hòa bình bị dập tắt, hạnh phúc loài người bị đe dọa.

Hơn bao giờ hết, khẩu hiệu “Hòa bình - Hòa hợp - Công lý” đề ra bởi Hội nghị ABCP lần thứ mười này cần phải được giương cao và biến thành hiện thực bởi những người con Phật chúng ta trong sứ mạng truyền bá Chánh pháp “vì lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho số đông”.

Để góp phần cho mục tiêu Hội nghị, chúng tôi xin thảo luận một nguyên lý rất chung về con người, do chính Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni tự thân chứng nghiệm rồi giảng dạy cho chúng ta, từ đó tình thương và lòng từ bi của con người được đánh thức và nở hoa, đưa đến tôn trọng sự sống và hạnh phúc của muôn loài và thiết lập hòa bình thế giới: Nguyên lý bình đẳng giữa con người và con người và giữa các loài chúng sinh. Kinh Pháp cú dạy:

“Tất cả mọi người đều sợ hình phạt, sợ tử vong và đều yêu quý mạng sống; hãy lấy mình làm ví dụ để không giết hại hay khiến người khác giết hại”.

“Tất cả chúng sinh đều mong muốn được hạnh phúc; do đó người nào xây dựng hạnh phúc của mình trên sự khổ đau của kẻ khác thì nhất định sẽ gặp bất hạnh đời sau”.

Đức Phật tôn trọng sự sống và hạnh phúc của muôn loài bởi một lẽ duy nhất: Tất cả chúng sinh đều yêu quý sự sống, lo sợ sự chết, mong muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau. Ngài chứng ngộ sự thật này bằng chính kinh nghiệm tự thân:

“Tâm ta đi cùng khắp,
Tất cả mọi phương trời,
Cũng không tìm thấy được,
Ai thân hơn tự ngã.
Tự ngã đối mọi người,
Quá thân ái như vậy,
Vậy ai yêu tự ngã,
Chớ hại tự ngã người”.

Tôi đặc biệt chú ý đến sự thật phổ quát hay nguyên lý rất chung này mà Đức Phật đã tự thân chứng nghiệm để nói lên rằng tình thương và lòng từ bi của Ngài là rộng lớn vô biên, không thể dùng tâm thái thường tình của chúng sinh mà đo lường được. Nó khác với tình thương và lòng từ bi thông thường của chúng ta bởi nó được đánh thức và cổ vũ bởi sự thật hơn là bởi truyền thống hay ước lệ xã hội.

Chúng ta thường biểu lộ tình thương và lòng từ bi của mình bởi chúng ta được bảo tình thương đáng ca ngợi và lòng từ bi đáng được nuôi dưỡng. Truyền thống hay ước lệ xã hội giúp chúng ta nuôi dưỡng tình thương và lòng từ bi nhưng đó là tình thương và lòng từ bi được quy ước, biểu lộ bởi sự thôi thúc và cổ vũ bên ngoài, không phải là tình thương và lòng từ bi nội tâm, được đánh thức và cổ vũ bởi sự thấy biết đúng như thật các nguyên lý cơ bản về con người và về cuộc đời.

Do được thôi thúc và cổ vũ bởi truyền thống hay ước lệ xã hội nên tình thương và lòng từ bi của chúng ta thường bị giới hạn bởi chính cái khuôn khổ của truyền thống hay ước lệ xã hội ấy. Chúng ta tỏ ra thương yêu và đối xử từ tâm với người này nhưng không thương yêu và tỏ lòng từ bi đối với người khác. Thông thường truyền thống hay ước lệ xã hội chỉ cho phép chúng ta mở rộng tình thương và lòng từ bi của chúng ta trong phạm vi của nó và ít khi nó khuyến khích một bước tiến xa hơn.

Sắc thái chủng tộc, biên giới quốc gia, văn hóa dân tộc là các rào chắn vững chắc mà mỗi quốc gia thường dựng lên để tạo thế phòng thủ và để khoe khoang cái tốt của mình với người khác. Chúng ta có khuynh hướng thích khoe cái tốt và cố che cái xấu của mình với người khác. Và chính các rào chắn mang tính quốc gia hay chủ nghĩa dân tộc này mà chúng ta thường lấy làm tự hào là các tường thành ngăn cách chúng ta với người khác và không cho phép chúng ta mở rộng tấm lòng của mình xa hơn.

Chúng ta được dạy thương người và cứu giúp người nhưng cùng lúc chúng ta cũng được bảo người mình đáng thương, đáng giúp hơn, kẻ khác không đáng thương, không đáng giúp bởi họ theo tôn giáo này hay chính thể nọ. Thành công của các biên giới quốc gia là tạo ra sự khác biệt càng nhiều càng tốt giữa các dân tộc để giành phần hay phần thắng về cho mình. Dân tộc nào cũng cho mình hay mình tốt bởi mình có nhiều thứ ưu việt hơn các dân tộc khác. Ít có người nào hay dân tộc nào tự nhận mình giống người khác bởi sự kiện rằng mình cũng là con người với đầy đủ cái hay cái tốt cùng tất cả thói hư tật xấu của một con người, một dân tộc.

Những khác biệt nhỏ nhặt giữa con người với con người và giữa các dân tộc thường được phóng đại lên, trong khi sự thật giống nhau rất to lớn giữa con người và giữa các dân tộc bị lãng quên. Chúng ta chỉ thấy người khác khác mình hay dân tộc khác không giống mình bởi họ nói năng khác mình và suy nghĩ không giống mình, nhưng chúng ta quên rằng ngoài những khác biệt nhỏ nhặt ấy về ngôn ngữ hay về văn hóa, người khác và dân tộc khác hoàn toàn giống chúng ta bởi họ cũng thích sống sợ chết, mong muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau như chính chúng ta.

Phải thấy rõ sự thật căn bản về mình và về người như thế thì tình thương và lòng từ bi mới thật sự nở hoa. Và phải thấy rõ sự thật căn bản giữa mình và người như thế thì hòa bình mới được thiết lập.

Chấp nhận sự thật giống nhau giữa con người và con người là điều kiện căn bản và cần thiết cho tình thương và lòng từ bi nở hoa. Khi tình thương và lòng từ bi nở hoa thì chiến tranh bị đẩy lùi và hòa bình được thiết lập.

Đức Phật tỏ rõ tình thương và lòng từ bi vô lượng của Ngài bởi Ngài vượt ra ngoài khuôn khổ của mọi truyền thống hay ước lệ xã hội và bởi Ngài thấy rõ sự thật ham sống sợ chết, mong muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau của tất cả chúng sinh. Tâm của Đức Phật không phải là tâm một người Ấn Độ mà là Phật tâm.

Phật tâm thì vượt ra ngoài mọi biên giới chủng tộc, văn hóa và luôn thấy rõ bản chất tham sống sợ chết của tất cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều bình đẳng về phương diện sống, chết, hạnh phúc và khổ đau. Do đó, bài học lớn nhất mà người ta có thể học được ở đạo Phật là quên đi tính ích kỷ nhỏ nhen thường được gói bọc rất kỹ và rất khéo bởi những lý tưởng mang tính quốc gia hay chủ nghĩa dân tộc để chấp nhận sự thật rất chung này của con người.

Đọc lại những lời dạy của Đức Phật nói về bản chất ham sống sợ chết, mong muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau của tất cả chúng sinh, chúng ta không khỏi giật mình xấu hổ về tính ích kỷ cố hữu của chúng ta và về lối suy nghĩ nhỏ nhen mà chúng ta muốn áp đặt lên người khác.

Sự thật rằng tất cả chúng sinh đều yêu quý sự sống và lo sợ sự chết, mong muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau thì có gì đáng phân biệt giữa mình và người khác, ngoài một vài khác biệt nhỏ về ngôn ngữ và văn hóa? Tôi hiểu thế nào là tầm quan trọng của ngôn ngữ và văn hóa mỗi dân tộc đối với sự phát triển của mỗi con người cá nhân nhưng tôi thấy cao cả hơn là tình thương và lòng từ bi của Đức Phật bởi nó vượt ra ngoài mọi biên giới quốc gia hay hào lũy dân tộc để tìm đến với hết thảy mọi người và mọi loài. Kinh Từ bi, Thế Tôn dạy:

“Mong mọi loài chúng sinh,
Được an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.
Mong tất cả những ai,
Hữu tình có mạng sống,
Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
Không bỏ sót một ai,
Kẻ dài hay kẻ lớn,
Trung, thấp, loài lớn, nhỏ,
Loài được thấy, không thấy,
Loài sống xa, không xa,
Các loài hiện đang sống,
Các loài sẽ được sanh,
Mong mọi loài chúng sinh,
Sống hạnh phúc an lạc.
Mong rằng không có ai,
Lường gạt, lừa dối ai,
Không có ai khinh mạn,
Tại bất cứ chỗ nào,
Không vì giận hờn nhau,
Không vì tưởng chống đối,
Lại có người mong muốn,
Làm đau khổ cho nhau.
Như tấm lòng người mẹ,
Đối với con của mình,
Trọn đời lo che chở,
Con độc nhất mình sanh.
Cũng vậy đối tất cả,
Các hữu tình chúng sinh,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn.
Hãy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn,
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch”.

Tôi cho rằng chính tình thương và lòng từ bi vô lượng vô biên này của Đức Phật đã mở đường cho thái độ tôn trọng sự sống muôn loài của đạo Phật và lý tưởng phụng sự chúng sinh hết sức cao cả mà hết thảy Tăng Ni và tín đồ Phật giáo đã không ngừng theo đuổi.

Chính tình thương và lòng từ bi ấy đã khiến Jìvaka đem toàn bộ vốn liếng y học của mình phục vụ chư Tăng; Anāthapindika và Visakhà dốc tài sản ra vì lợi ích của Giáo hội; Asoka tuyên bố chấm dứt chiến tranh, theo đuổi hòa bình và không ngừng nỗ lực tạo dựng các tiện nghi vật chất và truyền bá Chánh pháp vì lợi ích của thần dân ông và nhiều dân tộc khác trong khu vực; đặc biệt các thế hệ Tăng sĩ Phật giáo đã bất chấp mọi gian nan và hiểm nguy mang giáo lý từ bi giải thoát đến với nhiều quốc gia và nhiều dân tộc trên thế giới.

Ngày nay, phải chứng kiến nạn khủng bố, bạo động và chiến tranh không ngừng xảy ra trên thế giới vì lý do tôn giáo hay bởi chủ nghĩa sắc tộc cực đoan và tình trạng cấm vận hay bao vây kinh tế được áp dụng giữa các quốc gia hay giữa các khối chủ nghĩa bởi lý do chính trị, chúng ta càng thấm thía những lời dạy của Đức Phật nói về bản chất mong sống sợ chết, ước muốn hạnh phúc và chán ghét khổ đau của tất cả chúng sinh và càng thấy rõ sự cần thiết phải mở rộng giáo lý Từ bi của Ngài trong thế giới hiện đại.

(Tham luận của HT.Thích Minh Châu tại Hội nghị ABCP lần thứ 10, đại diện chính thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trung tâm ABCP quốc gia Việt Nam, tổ chức tại Trung tâm ABCP quốc gia Lào. Tư liệu do Thượng tọa Trưởng Pháp tử của cố Hòa thượng cung cấp cho GN)
(Hòa thượng Thích Minh Châu)

MỘT THỜI VẠN HẠNH Qua ngày rằm tháng Bảy, Hòa thượng Minh Châu viên tịch vào buổi sáng chớm thu. Vu lan ngưng đọng, mây ...
01/09/2023

MỘT THỜI VẠN HẠNH
Qua ngày rằm tháng Bảy, Hòa thượng Minh Châu viên tịch vào buổi sáng chớm thu. Vu lan ngưng đọng, mây la đà bay thấp hơn, và từ đó là những ngày không có nắng.

Vạn Hạnh tôn trí di ảnh của Ôn, gương mặt điểm một chút cười nhẹ. Ít khi thấy tấm ảnh nào của Ôn mà không cười. Nói theo kiểu triết học, cười là thuộc tính của Ôn.

Ngày khoác chiếc y vàng làm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Ôn đã mở ra chân trời đại học cho Tăng Ni Việt Nam. Ngày đó, sau những chao đảo Pháp nạn, những mê hồn trận làm kinh tâm táng đởm tuổi trẻ, chư tôn Giáo phẩm cùng Ôn đã tận lực xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Mở viện Đại học Phật giáo để cân bằng cán cân văn hóa giáo dục, để đứng ngang tầm với viện Đại học Đà Lạt, viện nổi tiếng về thần học uyên bác, để hội họp thân hữu với Viện Đại học Cần Thơ, và Viện Đại học Tây Ninh đang trên đà thành hình.

Ngày đó, những tân sinh viên mới ra khỏi lớp vỏ Trung học, đang còn chập chững bước vào giảng đường, hình ảnh uy nghiêm thanh thoát của quý Ôn, màu áo nâu, y vàng làm lay động cả khung trời mới lạ. Ôn Viện trưởng thường bước vào lớp với nụ cười an ổn. Một tay nắm chéo y, và thầy bắt đầu giảng kinh Trung bộ, Trường bộ... Những danh từ Pali làm choáng váng, nào là Sāvathi, nào là Sāriputta... tại sao không là Xá-vệ, Xá-lợi-phất quen thuộc như xưa? Bộ kinh dày và mênh mông sâu thẳm như trí tuệ của thầy. Giọng của thầy mang âm hưởng Quảng Bình, học trò tha hồ căng hai lỗ tai, cuối giờ còn có kẻ khều khều nói nhỏ: “Cho tui mượn tập ghi chép, tui nghe hết hơi mà hỏng kịp.”

Mới năm đầu tiên là như thế, qua những năm sau, không khí học đã sôi động. Hành lang Phật khoa luôn luôn ưu tiên cho Tăng Ni, ưu tiên cho sinh viên các khoa khác, sau khi học xong giờ nơi trường mình, dự thêm giờ Phật khoa để bổ sung kiến thức. Lớp bắt đầu muộn, vào cuối giờ chiều, đứng trên hành lang nhìn xuống sân thấy thầy đi kinh hành. Một tay nắm chéo y, tay kia thong thả theo nhịp bước, thầy đi vòng quanh sân, bấy giờ sinh viên đã về bớt, thầy đi như một chấm màu vàng di động, như có gió thổi theo chân. Ngày đó, những buổi chiều gió rất thích về thăm sân trường, thăm các hành lang nhộn nhịp.

Giảng đường 18, giờ của thầy Nguyễn Duy Cần, luôn luôn kèm theo chiếc cặp to màu đen. Sinh viên không biết có những gì trong đó, nhưng giờ triết Đông của thầy thường ngồi kín giảng đường. Thầy biểu muốn hiểu tinh thần Đông phương, tinh thần Phật giáo thì nên mua bộ Lục Mạch Thần Kiếm về xem. Báo hại có người chong đèn thức khuya, không xem kinh mà xem Đoàn Dự đi lang thang. Mỗi giờ học là mỗi giờ thú vị, tinh thần mạnh mẽ phóng khoáng của các thầy dù thượng thừa phương trượng hay tục gia phương ngoại, đã thổi sinh khí cho Vạn Hạnh.

Giờ học so sánh triết Đông và triết Tây, đề tài tìm hiểu mối liên hệ giữa trái hỏa châu và tinh thần phương Đông. Thời đó, chiến tranh miền Nam khốc liệt, ở vùng ngoại ô mỗi đêm đều có hỏa châu lững lơ trên đầu. Cả lớp xôn xao về đề tài có tính cách thời sự và thách đố. Người thì nói hỏa châu là thành tựu của khoa học phương Tây, người phản bác lại nói thuốc súng thuốc nổ là phát minh của Trung Hoa đầu tiên. Kẻ mơ mộng hơn, nói phương Đông như màn đêm huyền bí… Tự do phát biểu tư tưởng của mình… Tranh luận mãi rồi cũng không kết thúc được là Đông hay Tây, thôi rủ nhau lên căn tin uống sữa.

Thời đó, sinh viên sau giờ học hay ghé qua mấy quán cà phê gần trường bàn chuyện văn chương sách vở. Thời đó, Phạm Thiên Thư, Lê Nghị viết tràn những trang thơ. Đến khi nghe phổ nhạc “Rằng xưa có gã từ quan. Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”, mới biết lớp mình hân hạnh có thiên... tai. Thời đó, cũng có khi trường phải bãi khóa, sinh viên tổ chức đêm không ngủ kêu gọi hòa bình. Cũng đôi lúc văn nghệ, hát nhạc Phạm Thế Mỹ hoặc hát lên ước mơ “Mai đây hòa bình, ta về ngắm lại dòng sông xưa, đồng hoang xơ xác hai bên sẽ mai này thơm mùi lúa chín.” Trên tất cả mọi thứ, vẫn có Thầy qua lại lên xuống sân trường, màu vàng y thấp thoáng, gió thì thầm với nhau rằng những nếp y của thầy rất ưu tư. Thầy hiện diện trong một thời tuổi trẻ băn khoăn và xao động của sinh viên, đem tinh thần Phật giáo để hướng dẫn dạy dỗ.

Chuyện cổ tích Việt Nam có kể, thời rất xưa có cuộc trao đổi giữa Bụt và ma, con người núp sau lưng Bụt xin che chở. Bụt chỉ giao hẹn là trong phần đất bằng với tấm y của Bụt, ma không được xâm phạm, ngoài tấm y là lãnh vực của ma. Tấm y của Bụt đâu có rộng lớn gì, ma đồng ý ký kết. Và khi tấm y vàng b**g ra, bao nhiêu gian tà ma mị dạt hết ra ngoài. Tấm y bay choàng cả không gian thời gian, con người được an lành trong màu y của Bụt. Màu y của Thầy, một thời trải dài trong tâm thức sinh viên, học tập vui chơi an lành dưới khung trời đại học.

Một cuộc đời gần gũi gắn liền với biết bao biến chuyển đất nước và đạo pháp, rồi cũng ra đi khi đúng hẹn. Cởi áo tử sinh và khoác áo vô sinh.

Áo xưa vừa khoác lên người
An nhiên gửi lại nụ cười xưa sau.
(Như Đức)

KÍNH TƯỞNG NIỆM 11 NĂM NGÀY TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU VIÊN TỊCHĐúng vào mùa Vu lan PL.2556, vào lúc 9g sáng ...
31/08/2023

KÍNH TƯỞNG NIỆM 11 NĂM NGÀY TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU VIÊN TỊCH
Đúng vào mùa Vu lan PL.2556, vào lúc 9g sáng ngày 1 tháng 9 năm 2012 (tức 16-7 âm lịch), Ngài đã nhẹ nhàng xả báo thân tại phương trượng thiền viện Vạn Hạnh, trụ thế 95 năm - 64 hạ lạp.

Cuộc đời của Hòa thượng là một tấm gương sáng về đức trí và giáo dục cho Tăng Ni nhiều thế hệ. Ngài còn là người anh cả - sáng lập viên của tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Gia đình Phật tử Việt Nam. Với tính điềm đạm và đức nhẫn nại của một bậc thực học, chơn tu khả kính và với sự nghiệp to lớn về giáo dục, phiên dịch Đại tạng kinh Pali-Việt, Hòa thượng luôn luôn để lại cảm tình đặc biệt trong lòng Phật tử Việt Nam.
(Pg)

Lời khuyên vô giá của HT Thích Minh Châu về CHÁNH TÍN Trong Ngũ lực, gồm Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực...
12/08/2023

Lời khuyên vô giá của HT Thích Minh Châu về CHÁNH TÍN
Trong Ngũ lực, gồm Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực thì Tín lực là hàng đầu, là cửa ngõ để đạt được các lực theo sau. Tín lực không phải là sự tin tưởng vào những giáo điều, giáo pháp một cách mù quáng, ồ ạt và thiếu xét đoán để dẫn đến việc làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sanh.

Tín lực là lòng tin sâu sắc và mạnh mẽ đối với Chánh Pháp của đức Phật Thích Ca, là lòng tin chân chánh, chớ có vội tin mà hãy đến để mà thấy và tự mình chứng nghiệm, như đức Phật từng dạy: "Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: Các pháp này bất thiện, các pháp này là có tội lỗi, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.

Chính vì thế, từng ngày giờ chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ những điều mà không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ tất cả chúng sanh thì ngay đó đã cảm nhận được sự thanh thản, an lạc, đã có Chánh Tín và cũng chính là đang hành đúng theo nền đạo đức nhân bản - nhân quả do đức Như Lai là người đầu tiên tuyên thuyết.

Nói không làm khổ mình, khổ người không có nghĩa là chúng ta cứ làm ngơ trước những điều sai trái của người khác. Chính trong thời xưa đức Phật Thích Ca đã không ít lần đập mạnh, chỉ thẳng cái sai của 62 luận thuyết tà kiến ngoại đạo (trong Kinh Phạm Võng, Trường Bộ Kinh). Quả là " bậc A La Hán ra đời như cánh chim trời, tung bay khắp mọi nơi khiến cho vũ trụ rung chuyển, những tư tưởng mê tín, dị đoan, lạc hậu của loài người bị đảo lộn, không còn đứng vững, rơi rụng như những chiếc lá vàng mùa thu".

Có vị Thầy mạnh dạn chỉ ra những việc được hành sai trong Phật giáo hơn 2500 năm nay kể từ khi đức Phật và cuối cùng là ngài Ananda nhập diệt để giúp biết bao người tránh lầm đường lạc lối trên con đường tu tập của mình. Nếu chúng ta nghĩ rằng vị ấy làm khổ người, nói xấu người khác, không có ái ngữ thì đó chưa phải là cách hiểu đúng, do mình còn kiến thủ.

Đức Phật có dạy trong Kinh Pháp Cú, phần VI - Phẩm Hiền Trí: “Nếu gặp bậc hiền trí/ Chỉ lỗi và khiển trách/ Như chỉ chỗ chôn vàng/ Hãy kết thân người trí/ Kết thân với vị ấy/ Chỉ có lợi không hại”.

Biết nương theo những lời chỉ dạy của bậc hiền trí, bậc thiện hữu tri thức thì mọi người sẽ không còn chấp thủ vào cái sai của mình, tự mình cởi trói cho bản thân khỏi cái kiến giải, tưởng giải được truyền thừa từ bao đời nay. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy về lòng tin chân chánh:

“Này các Kàlàmà! Chớ vội tin vì nghe truyền thuyết, Chớ vội tin vì nghe truyền thống, Chớ vội tin vì nghe người ta nói đồn, Chớ vội tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, Chớ vội tin vì nhân lý luận siêu hình, Chớ vội tin vì đúng theo một lập trường, Chớ vội tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện, Chớ vội tin vì phù hợp với định kiến của mình, Chớ vội tin nơi xuất phát có uy quyền, Chớ vội tin vì bậc Sa Môn là đạo sư của mình v.v..

Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này bất thiện, Các pháp này là có tội lỗi, Các pháp này bị người có trí chỉ trích, Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”.

Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.

Trên con đường tìm cầu đạo giải thoát thì cũng có lúc chúng ta đứng giữa ngã ba, ngã bảy trong khi lối đi đến tiếp cận chân lý thì chỉ có một: đó chính là Bát Chánh Đạo. Cái ngã ba ngã bảy ấy tượng trưng cho một số lượng lớn kinh sách được cho là của Phật thuyết mà sự thực thời còn tại thế đi hóa độ chúng sanh, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dù có thuyết pháp rất nhiều nhưng Ngài thường chú trọng vào Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo, pháp Như Lý Tác Ý và Thân Hành Niệm…

Sau đây, xin trích dẫn những lời chỉ dạy vô giá của Hòa Thượng Thích Minh Châu về Chánh tín dành cho tất cả những ai đã, đang và sẽ tìm đến với Phật pháp.

1) Sách Chánh Pháp và Hạnh Phúc, Nhà Xuất bản Tôn giáo (2001), trang 238-246:

“Cho dịch và cho in các bản kinh Pàli, chúng tôi không mong muốn gì hơn là để các phật tử, các học giả, các sinh viên được đọc thẳng vào kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và sự tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của Đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những học giả và những phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình.

Muốn chạy theo dục vọng thì giải thích kinh điển một cách dễ hiểu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn bênh vực kẻ giết người, đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Tà kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết!

Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhất là phổ biến những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào. Đạo Phật cần những cá nhân phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân. Đạo Phật Không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình.

Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 124- 126, tập III có ghi rằng, dù chúng ta có nghe vị Tỳ-kheo nào nói tự thân nghe Đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ chúng v.v... nói như vậy là pháp, như vậy là luật, Đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với kinh, đối chiếu với luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu suy tư khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của Đức Phật.

Chúng tôi dịch kinh Pàli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu những kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của Đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dù Ấn Độ, Trung Hoa, hay Việt Nam.

Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy, chứ không phải đạo đến để nhờ người thấy hộ, đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải đạo của người nhắm mắt, đạo của người thấy, của người biết (Passato Ajànato), không phải là đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.

Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ tư lợi không biết vị tha, chỉ biết tự giác không biết giác tha. Như chúng tôi đã phân tích trong lời giới thiệu bản dịch tập “Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa,” chúng ta đừng có mắc bẫy các vị Bà La Môn Ấn Độ giáo tìm cách gán cho chữ “Tiểu Thừa” để loại ra ngoài những lời Phật dạy căn bản, như một số phật tử Đại thừa đã bị mê hoặc, không dám đọc những lời Phật vì bị gán nhãn hiệu Tiểu Thừa.

Bên phái Nam tông, tuy tôn thờ Tam Tạng Pàli, nhưng một số phật tử cũng rơi vào nạn tương tự, là chỉ học luật tạng và A Tỳ Đàm tạng, bỏ rơi Kinh tạng Pàli, vì xem A Tỳ Đàm tạng mới đề cập đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, còn kinh tạng chỉ bàn đến Tục Đế mà thôi. Đây cũng là một lầm lạc hết sức ngây thơ và nguy hiểm. Vì A Tỳ Đàm phát xuất từ kinh tạng, và bỏ để tìm ngọn thì không khác gì kẻ đi tìm lõi cây, mà chỉ mang về cành lá.

Thật sự đạo Phật đâu có phân biệt Tiểu Thừa và Đại Thừa, đâu có chia đôi Chân đế, Tục đế. Những sự phân chia này chỉ là hậu tác phẩm, hoặc của giáo sĩ Bà La Môn mang danh phật tử muốn loại bỏ những gì tinh túy nhất của đạo Phật không cho phật tử học và tu, hay của một số đệ tử Phật muốn làm Tổ sư một giáo phái nên đề xướng các chủ thuyết lấn át những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.

Thật sự chúng ta chỉ có một trách nhiệm tìm đọc và tìm hiểu những lời dạy thật sự là những lời dạy của Đức Phật, và vì trách nhiệm ấy mà chúng tôi đang cố gắng phiên dịch kinh tạng Pàli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chín chắn và rồi chính chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn Sư chúng ta.

Đây là sự đóng góp của Viện Đại Học Vạn Hạnh vào nền văn hóa Phật giáo bằng cách giới thiệu một cách đầy đủ và trung thực những tài liệu tiếng Việt quý báu nhất về kinh tạng Pàli, vừa cho các phật tử tìm hiểu, thực hành và thực chứng, vừa giúp các học giả Phật giáo có những tài liệu tham khảo khá đầy đủ và trung thực.

Viện Đại Học Vạn Hạnh là môi trường đầu tiên nếu không phải là độc nhất, đã cố gắng giới thiệu kinh tạng Pàli cho phật tử Việt Nam, học giả Việt Nam, dân chúng Việt Nam.

Viện Đại Học Vạn Hạnh cũng đi tiên phong mở đường cho một cao trào nghiên cứu đi thẳng vào lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, khỏi bị những lệch lạc của học phái hay của Bà La Môn giáo. Điều quan trọng hơn nữa, Viện Đại Học Vạn Hạnh khuyến khích các học giả và các phật tử tự mình mở mắt tìm hiểu, suy tư đối chiếu, không có nhắm mắt tin theo, không có thụ động chấp nhận, trái lại phải biết thâu hóa, so sánh, để làm sáng tỏ những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.”…

2) Lời giới thiệu Kinh Trung Bộ (trong bản in năm 1986):

“Gần chúng ta hơn, Kinh Trung Bộ này đã nằm trong chương trình học của Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, và Tăng Ni sinh cần có kinh sách để học hỏi nghiên cứu, cho nên cho in lại Kinh Trung Bộ là đáp ứng nhu cầu cấp bách này. Ngoài ra Kinh Trung Bộ đang được nhiều nhà học giả, nhiều Phật tử nghiên cứu và tìm hiểu, vì chúng ta có thể nói Kinh Trung Bộ không những là cốt lõi trong Kinh Tạng Pàli mà còn diễn đạt rất súc tích và đầy đủ những định nghĩa căn bản các danh từ đạo Phật và còn diễn đạt rất phong phú và đa dạng những pháp môn tu tập đưa đến Niết bàn. Chưa học Kinh Trung Bộ là chưa nắm được tinh hoa của Ðạo Phật nguyên thủy. Chưa nghiên cứu Kinh Trung Bộ rất có thể rơi vào những lệch lạc định nghĩa các danh từ chuyên môn trong đạo Phật mà Ðức Phật đã dày công định nghĩa, mỗi khi Ngài thuyết giảng giáo lý của Ngài.

Chúng tôi chỉ có thể nói một cách vắn tắt là Kinh Trung Bộ đặt nặng về phần Chánh Tri Kiến và các phương pháp tu hành, nhất là những tiến trình tu chứng đi từ Giới, Ðịnh, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Còn Kinh Trường Bộ đặt nặng phần lịch sử, có tánh cách đối ngoại đối với Bà La Môn, du sĩ ngoại đạo, Kỳ na giáo... Tăng Chi Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo pháp số từ số 1 đến số 11. Tương Ưng Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo đề tài. Còn đọc Kinh Trung Bộ chúng ta đi sâu vào phần giáo lý và phần hành trì, đặt nặng về những phản ứng tâm lý tế nhị của người tu hành khi đạt đến những quả vị tối cao.

Công trình phiên dịch của tôi, một mặt đáp ứng sở nguyện xuất dương tu học của tôi, một mặt xây dựng những tài liệu nghiên cứu đạo Phật cho các Học giả và Phật tử Việt Nam. Lẽ dĩ nhiên trong trách nhiệm hiện tại của tôi, sự phiên dịch đòi hỏi nhiều cố gắng, nhiều dụng công kiên trì và liên tục, nhưng chúng tôi đã được tưởng thưởng xứng đáng, khi được tận hưởng những Pháp Lạc do Chánh Pháp đem lại trong khi phiên dịch. Pháp Lạc này ẩn chứa trong từng chữ từng câu, tiềm tàng trong từng câu văn giọng nói, và chính Pháp Lạc đã nuôi dưỡng và khích lệ chúng tôi rất nhiều trong công tác phiên dịch này.

Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch.

Có người than kinh Pàli quá dài và có nhiều đoạn trùng điệp. Khi dịch Kinh, bao giờ tôi cũng phải kính trọng nguyên bản, và vì vậy chúng tôi không có thể tự ý lược bỏ những đoạn trùng điệp, dầu rằng nguyên bản Pàli chúng tôi phiên dịch cũng đã lược bỏ khá nhiều. Ðiều chúng ta nên nhớ là phần lớn Kinh điển được kiết tập trong các Ðại hội Kiết tập và đều do chư Tăng tụng đọc lại những đoạn các vị ấy đã ghi nhớ, và lẽ dĩ nhiên khi tụng đọc không bao giờ có chuyện lược bỏ. Lại nữa đức Phật trong khi đi truyền giáo, mỗi Kinh đều được giảng trọn vẹn trong mỗi hoàn cảnh đặc biệt và chư Tăng ghi nhớ lại không bao giờ dám lược bỏ các đoạn đã được nghe. Do đó, có nhiều đoạn trùng điệp, khó lòng lược bỏ cho được. Dầu thế nào, các đoạn trùng điệp vẫn có sự tác dụng cho người đọc, vì không gì tốt đẹp hơn là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần những giáo lý quan trọng và những pháp tu căn bản.

Chúng tôi nay chỉ chú trọng phiên dịch, và mong dịch cho được chu toàn và đầy đủ, để làm tài liệu nghiên cứu và tu học cho các Phật tử và Học giả, chưa có một nhận xét, phê bình, so sánh đối chiếu gì. Mỗi bộ Kinh được dịch xong là những nguồn tài liệu văn hóa hết sức phong phú và quý giá cho các Học giả và các Phật tử, và hiện tại sự cố gắng duy nhất của chúng tôi là cung cấp những tài liệu văn hóa ấy. Cho nên, với 5 bộ Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng, Kinh Tiểu Bộ, chúng tôi nghĩ là giới thiệu được những tài liệu khá chính xác và đầy đủ để các nhà học giả, Tăng Ni Phật tử, Sinh viên đi sâu được vào những Giáo lý và Giáo pháp căn bản, thật sự là nguyên thủy của Ðạo Phật.”

———————————————————————————

“Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.”

“Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.” (Kinh Trường Bộ, bài Kinh Đại Niết Bàn).

Address

Quận 1
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cựu TNS Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share