KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH

KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH

NHẢM TỪ VỤ ĐÔNG CHÍ, MẶT TRỜI, NHÀ, ĐẾN CAU VÀ CHUỐI(Cái này có vài mẩu kiến thức nhập môn,...
28/12/2021

NHẢM TỪ VỤ ĐÔNG CHÍ, MẶT TRỜI, NHÀ, ĐẾN CAU VÀ CHUỐI

(Cái này có vài mẩu kiến thức nhập môn, thường được Phễu tui nói chuyện khi dạy về "kiến trúc nhập môn" hoặc "nguyên lý thiết kế". Nay rảnh ngồi gõ đặng giới thiệu với mấy em. Coi như chuyện phiếm, trà dư tửu hậu, coi đỡ buồn).
---

Hôm qua là Đông chí, tức là đứng ở mặt đất mà ngó lên trời, thì mặt trời lệch cực đại về phía nam vào giữa trưa. Bữa nay, giống như một cua rơ cần mẫn rong đuổi cung đường từ đông sang tây mỗi ngày, mặt trời lại bắt đầu "đánh võng" lên phía bắc. Đúng nửa năm sau khi đã đánh võng cực đại về hướng bắc, tức ngày Hạ chí, nó lại đánh võng từ từ về phương nam. Gặp ngày Đông chí, nó lại lượn về phương bắc. Rảnh ghê.

Đó là lý do tại sao giữa mùa đông hay giữa mùa hạ thì lại gọi là "chí" (có nghĩa là "cực kỳ", "cùng cực"). Tất nhiên sau ngày đông chí, dù có muốn thì mặt trời cũng chả thể lệch hơn về phương nam được nữa. Và ngày hạ chí cũng vậy, chả thể lệch hơn về phương bắc. "Chí" là vậy. Bữa nào rảnh rảnh, mặt trời buồn buồn đánh võng lên lề, ấy là lúc cả nhân loại sẽ đi ăn mày, à quên, bán muối. keke...

Dĩ nhiên trong quá trình đi lên đi xuống ấy, có hai lần chúng đi trên đỉnh đầu. Đó là ngày Xuân phân và Thu phân. Hai điểm này cũng là chính giữa hai mùa. Chẳng phải giống như Hạ chí và Đông chí (lúc này mặt trời đang đi ngon lành xuống phía bắc (hay nam), buộc phải "giội" lại); mặt trời lúc này cứ điềm nhiên đi qua. Thành ra cái ngày này được gọi là "phân": chúng đích thị là lằn ranh phân chia chính giữa mùa. Chớ hẻm gọi là "chí".

Viết tới đây chợt nhớ tới có một cuốn sách (nhảm nhí) về "kiến trúc công trình" (của một kiến trúc sư dạy ở ĐH Bách Khoa TpHCM); trong đó, tác giả gọi là "Xuân chí" và "Thu chí". Có thể tác giả này muốn khác người, nhưng chỉ qua cách xài từ đã thấy ông bị "lủng" về kiến thức nền tảng (phổ thông). Thường "điên" thì dễ "dốt". Điên mà uyên bác thì chắc ngoài cụ Bùi Giáng, cổ kim không có ai).

Quay lại vấn đề chính. Sở dĩ nói dài dòng thế chỉ để thấy mặt trời không phải là thanh niên nghiêm túc như chúng ta tưởng. "Hắn" đích thị là một tay chơi, lạng lách đánh võng thuộc hàng có số má.

Đua thì đua một mạch từ đông sang tây đi, còn bày đặt đánh võng, khi thì lượn về phương bắc, lúc thì lượn về phương nam trên bầu trời. Mắc mệt.

Và tổ tiên đáng kính của chúng ta cũng... đua đòi theo tên "mất dại" kia để mần 3 việc lớn nhứt của đời người là: cất nhà, lấy vợ, tậu trâu. À quên. Vụ tậu trâu thì không liên quan lắm. Có lẽ bọn trâu chúng sáng suốt nên không "dây" vào mấy vụ này.

Phễu tui không bịa. Đó là: "Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng nam".

Cái vụ "lấy vợ hiền hoà" thì khó quá, cho qua. Còn "mần nhà hướng nam" thì Phễu tui tám được.

Rõ ràng như đã phân tích ở trên, mùa đông đường chuyển động (biểu kiến) của mặt trời lệch về phía nam; do vậy, hướng cái mặt nhà về phía này thì chắc chắc sẽ ấm. Mùa đông lạnh teo (như hổm rày) mà được sưởi ấm thì... mèo còn khoái.

Ngược lại, mùa hè nóng đổ mỡ (tháng 4-6 nóng banh xác); thì mặt trời lại lơ lửng trên mái và hơi chênh chếch ra phía sau nhà. Lúc này cả căn nhà được mái nhà che nắng. Rõ ràng, cái nắng của mùa này đã bị vô hiệu hoá.

Và hai cái tường đầu hồi nơi có phòng ngủ nằm ở hướng đông và tây (tất nhiên là ban ngày thì chẳng ai sử dụng chúng cả) là chỗ che nắng và cách nhiệt toẹt vời cho ngôi nhà.

Thành ra chỉ cần quay mặt nhà về phía nam thì căn nhà tự thân nó đã tránh nắng được vào mùa nóng, được sưởi ấm vào mùa lạnh.

Chưa hết đâu. Cái vụ "trước nhà trồng cau, sau nhà trồng chuối" gần như là một bộ đôi đi với câu tục ngữ đã được phân tích ở trên. Có câu này mà không có câu "làm nhà hướng nam", thì nó trớt quớt.

Tất nhiên, nếu nhà quay về hướng nam, thì phía sau của căn nhà quay về phía bắc. Thành ra vườn chuối mọc dày với các tàu lá lớn sẽ che gió lạnh mùa đông từ phía bắc thổi tới. Vừa rồi, gió đông bắc tràn về thổi huhu suốt ngày, vườn chuối sau nhà lại chưa kịp lớn; báo hại Phễu tui mém chết vì lạnh.

Còn mặt nhà (hướng nam) thì trồng cau. Mà cau thì thân cao tán nhỏ, cho nên vừa không cản gió mát vào mùa hè (gió mùa Tây Nam), vừa không che cái nắng ấm áp vào mùa đông. Với lại, sân là chỗ phơi nông sản. Nếu trồng cây tán lớn thì không tận dụng được năng lượng trời cho.

Thế, đâu phải bây giờ mới có thiết kế bền vững hay công trình xanh; mà ông bà ta hàng ngàn năm trước đã biết cái vụ này rồi.

Ấy là mới phân tích có 2 câu tục ngữ thôi, mà đã thế. Kho tàng tục ngữ còn cho biết thêm nhiều điều hơn thế. Bữa nào quởn, viết tiếp.

---

P/s:

* Phễu tui cũng đua đòi mà cái nhà ở Củ Chi có đầy đủ cả "trước cau sau chuối" (cau đang ươm còn chuối chưa kịp nhớn), lẫn "làm nhà hướng nam". Còn vụ "cưới vợ hiền hoà" thì... tính sau.

* Dzợ ơi, em lớn chưa ta??

---

(Nguồn ảnh: internet)

Chút duyên cho ngôi nhà nhỏ
26/12/2021

Chút duyên cho ngôi nhà nhỏ

Cách trồng lục bình trong chậu.1 là bạn xuống ao hồ chuẩn bị cây.2 là chậu bạn lấy ít đất thịt or đất bùn và đổ nước vào...
26/12/2021

Cách trồng lục bình trong chậu.

1 là bạn xuống ao hồ chuẩn bị cây.

2 là chậu bạn lấy ít đất thịt or đất bùn và đổ nước vào.

3 là bỏ cây giống vô chậu cho cây thích nghi để nơi có ánh nắng vừa đủ.

4 là đất không đủ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây ta bỏ 1 ít phân đạm vào nước ( chú ý nên bỏ 1 ít không nên bỏ nhiều quá dư chất cây se chết) định kỳ mỗi tuần ta đổi 1 loại phân đạm, NPK,

5 là ta theo dõi cây lá ra nhiều ta nên tỉa bớt lá đi để có chất dinh dưỡng nuôi cây ra hoa. đợt hoa đầu tiên chúng ta nên cắt bỏ để chăm đợt sau cho hoa nhiều hơn và to hơn.

6 là muốn có hoa được như ý ta phải bón 1 ít phân kali vì giai đoạn ra hoa rất cần dinh dưỡng.

CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG CÓ NHỮNG CHẬU LỤC BÌNH THẬT ĐẸP. CHÚC CẢ NHÀ NGỦ NGON.

(Bài viết của bạn Chau Yen Linh)

HỌ ÁC QUÁ!…Vì tiền nên bạc.Họ ác quá, ác đến độ mình mất ngủ.Họ ác đến mức, vì tiền, bất chấp đại dịch, bất chấp con thơ...
22/12/2021

HỌ ÁC QUÁ!…

Vì tiền nên bạc.

Họ ác quá, ác đến độ mình mất ngủ.

Họ ác đến mức, vì tiền, bất chấp đại dịch, bất chấp con thơ mất cha mẹ, vợ mất chồng, huynh đệ máu mủ tình thâm âm dương đôi ngả, tỉ muội đằm thắm huyết thống sống chết chia lìa.

Họ ác quá, nước mắt của nhân dân chưa hồi tạnh ráo.

Phần khóc người thân mất đi, phần khóc việc làm bấp bênh, phần khóc phá sản bao năm tích góp giờ là tay trắng.

Họ ác quá, dân túng thiếu, muốn vay mấy triệu đồng phải không mảnh vải che thân tay cầm chứng minh nhân dân, mắt nhìn vào camera điện thoại đọc tên tuổi nhân thân để mong chủ nợ cho vay.

Họ ác quá, dân giúp dân trong đại dịch, có những bậc bồ tát, những bậc thiện nhân không may giúp người mà nhiễm bệnh rồi lìa đời.

Họ ác quá, dân khắp nơi kêu than test gì mà test lắm vậy. Test hoài, test mãi, test đến vô lý. Trẻ em đêm đông mặc áo bông, cụ già đi không nổi họ cũng lôi ra test.

Phá nhà dân để test, ngưng chích thuốc ngừa chờ test.

Họ bảo là thần tốc xét nghiệm, khắp nơi trăm hoa đua nở, test, test, test.

Sài Gòn dịch giã tung hoành, test tới rồi test lui. Lãnh đạo thành phố nay mới xin dừng test đại trà, mai lại vội vàng xin thêm mười triệu kit test. Thật không hiểu ra làm sao.

Nhân viên y tế chưa được nhận phụ cấp, việc nhiều dồn đống phải xin nghỉ, kệ, họ một chữ ký được chia 30 tỷ đồng.

Họ ác quá, mũ cao áo dài mà chi, mặt hoa da phấn mà chi, miệng thơn thớt nói cười, tay dùng chữ ký hơn gươm đao đồ sát sinh linh.

Họ ác hơn mình tưởng hoặc có thể nghĩ!

NGÔ NGUYỆT HỮU

P/S: Điệu buồn Delta - Tựa gốc: “Delta Blues”. Tranh và tựa của hoạ sĩ Úc David Rowe (nguồn: Australian Financial Review).

Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sangXin cho đôi mình suốt đời có nhauVang trong đêm lạnh bài ca Thiên ChúaKhẽ hát theo ...
20/12/2021

Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang
Xin cho đôi mình suốt đời có nhau
Vang trong đêm lạnh bài ca Thiên Chúa
Khẽ hát theo câu đêm thánh vô cùng
Ôi giọng hát em mênh mang buồn

(Photo Nguyen Phong)

Nội thất - điêu khắc gỗ - chân bàn.
18/12/2021

Nội thất - điêu khắc gỗ - chân bàn.

Đẳng cấp trường tồn
14/12/2021

Đẳng cấp trường tồn

Tôi làm theo bản vẽ mà! Uhm, thì tại chắc là nó giữ cái bản vẽ mặt bằng, tôi giữ các bản vẽ mặt bên!
14/12/2021

Tôi làm theo bản vẽ mà!

Uhm, thì tại chắc là nó giữ cái bản vẽ mặt bằng, tôi giữ các bản vẽ mặt bên!

Là đàn ông con trai - nên biết!
14/12/2021

Là đàn ông con trai - nên biết!

Nếu nói Cha Alexandre de Rhodes là gián điệp thì cả dòng họ và gia đình ông chu Văn Trình này đã đang bị gián điệp kích ...
13/12/2021

Nếu nói Cha Alexandre de Rhodes là gián điệp thì cả dòng họ và gia đình ông chu Văn Trình này đã đang bị gián điệp kích động, lôi kéo, giật dây, cảm hóa từ gần 5 thế kỷ này à? Bằng chứng là cả nhà ông giờ vẫn đang dùng chữ quốc ngữ và ông cũng mượn chữ quốc ngữ để viết mà không biết cám ơn tiền nhân.
-----------------------------------------------------------------

Nên biết, cha Alexandre de Rhodes sinh ngày 15/3/1593 tại Avignon, miền Nam nước Pháp.
Năm 1612 vào Tập viện Dòng Tên ở Rôma.
Năm 1618 thụ phong linh mục. Truyền giáo ở Đàng Trong từ cuối tháng 12/1624 đến tháng 7/1626.
Truyền giáo ở Đàng Ngoài từ 19/3/1627 cho tới tháng 5/1630.
Truyền giáo ở Macao từ tháng 5/1630 cho tới đầu năm 1640.
Trở lại truyền giáo ở Đàng Trong:
- từ tháng 12/1640 đến tháng 7/1641
- từ tháng 1/1642 đến tháng 7/1643
- từ tháng 3/1644 đến tháng 7/1645.
Tháng 12/1645, cha Alexandre de Rhodes trở về châu Âu rồi đi truyền giáo ở Iran và mất tại Ispahan ngày 5/11/1660.

Không thấy nói cụ làm gián điệp cho ai?

Mà không phải chỉ dân thường ít học bị tuyên truyền có suy nghĩ như vậy, hiện nay vẫn có nhiều giáo sư, tiến sĩ, các lãnh đạo tôn giáo nghĩ vậy!

Thật đáng buồn cho đất mẹ Việt Nam.

Nguồn : fb Cha Nguyễn Ngọc Nam Phong

NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐẶT CHÂN ĐẾN CHÂU MỸ  Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt ...
13/12/2021

NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐẶT CHÂN ĐẾN CHÂU MỸ


Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu.
Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.

Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.

Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Sàigòn có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích .

Mặt bằng tham khảo
13/12/2021

Mặt bằng tham khảo

Address

Lee Hoon Leong
Kampong Saigon

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share