Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Trường Đại học Đà Lạt

  • Home
  • Vietnam
  • Đà Lạt
  • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Trường Đại học Đà Lạt

Trung tâm Giáo dục Quốc phòng  và An ninh - Trường Đại học Đà Lạt Trung tâm giáo dục Quốc phòng và An ninh Đại học Đà Lạt Khoa Giáo dục Quốc Phòng An Ninh Trường Đại học Đà Lạt

GIÁ TRỊ VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ - NỀN TẢNG, ĐỘNG LỰC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ ------------Thời gian qua, cá...
21/04/2026

GIÁ TRỊ VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ - NỀN TẢNG, ĐỘNG LỰC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ
------------

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng chống phá hòng phủ nhận giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân, phá hoại “thế trận lòng dân”. Vì vậy, việc nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ có ý nghĩa nền tảng, tạo động lực xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc và thời đại. Đó không chỉ là danh xưng trìu mến mà nhân dân dành cho Quân đội mà còn là sự khẳng định về bản chất, phẩm chất và lý tưởng của một Quân đội “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không phải là khái niệm biểu trưng hay sản phẩm tuyên truyền, mà là hệ giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức được hình thành, bồi đắp và kiểm nghiệm trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, đồng thời là sự kết tinh giữa lý luận cách mạng với thực tiễn hoạt động.

Giá trị ấy thể hiện ở bản lĩnh chính trị kiên định, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; ở phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính; ở tinh thần đoàn kết, kỷ luật tự giác nghiêm minh, ý thức tổ chức cao và đặc biệt là mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là biểu hiện của phẩm chất người quân nhân cách mạng mà còn là nhân tố quyết định nuôi dưỡng, củng cố và phát huy sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, hình ảnh người chiến sĩ đã trở thành biểu tượng của ý chí quật cường, của tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Chính trong lửa đạn chiến tranh, những phẩm chất cao quý như dũng cảm, kỷ luật, đoàn kết, nghĩa tình, gắn bó máu thịt với nhân dân đã được hun đúc, trở thành giá trị bền vững.

Bước vào thời bình, những giá trị ấy không hề phai nhạt mà tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Bộ đội không chỉ là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia mà còn là lực lượng xung kích trên mặt trận lao động sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ dầm mình trong mưa lũ cứu dân, dựng lại nhà cửa sau thiên tai, tham gia tuyến đầu chống dịch... đã khắc sâu thêm niềm tin yêu của nhân dân. Chính những hành động cụ thể, thiết thực ấy đã khẳng định rằng giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là hiện thực sống động, không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch vẫn cố tình đưa ra nhiều luận điệu sai trái nhằm phủ nhận giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ. Một trong những thủ đoạn quen thuộc là xuyên tạc, cho rằng hình tượng này chỉ là “sản phẩm tuyên truyền”, “huyền thoại hóa” nhằm phục vụ mục đích chính trị. Chúng cố tình phớt lờ những minh chứng lịch sử và thực tiễn, phủ nhận những hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ.

Lợi dụng một số hiện tượng tiêu cực cá biệt trong một bộ phận nhỏ cán bộ, chiến sĩ, các thế lực thù địch quy chụp, đánh đồng, từ đó hạ thấp uy tín của toàn quân. Đây là thủ đoạn “lấy cái cá biệt thay cho cái phổ biến”, cố tình đánh tráo bản chất, làm lu mờ những giá trị tốt đẹp của Quân đội ta. Thực tế cho thấy, bất kỳ tổ chức nào cũng có thể tồn tại những hạn chế nhất định, nhưng điều quan trọng là cách nhìn nhận và xử lý. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, mọi sai phạm đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, thể hiện tinh thần tự chỉnh đốn, giữ vững kỷ luật, kỷ cương.
Một luận điệu đặc biệt nguy hiểm khác là cổ xúy cho quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội, đòi tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng cho rằng, Quân đội cần “trung lập”, không phục vụ bất kỳ lực lượng chính trị nào. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử Việt Nam và thế giới đã chứng minh, không có một quân đội nào đứng ngoài chính trị. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Tách Quân đội khỏi Đảng không phải là “trung lập hóa” mà là làm mất phương hướng chính trị, làm suy yếu sức chiến đấu, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch thao túng.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng không gian mạng để lan truyền thông tin sai lệch, bịa đặt về đời sống, sinh hoạt của bộ đội. Chúng sử dụng hình ảnh cắt ghép, thông tin chưa kiểm chứng nhằm tạo dư luận xấu, gây hoang mang trong xã hội. Đây là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội ta.

Thực tiễn đó đòi hỏi phải chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm củng cố và phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

Một là, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng về giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, giữ vai trò định hướng trong toàn bộ quá trình xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Bởi lẽ, nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng; khi các tổ chức, lực lượng hiểu sâu sắc giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ chính là cội nguồn sức mạnh chính trị-tinh thần của Quân đội, thì sẽ chủ động, tự giác trong giữ gìn, phát huy và bảo vệ các giá trị đó trước mọi tác động tiêu cực. Để thực hiện hiệu quả, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng thiết thực, gắn lý luận với thực tiễn; làm rõ nội hàm, ý nghĩa và vai trò của giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới. Đồng thời, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chủ trì trong tuyên truyền, định hướng nhận thức, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, đổi mới giáo dục chính trị và đẩy mạnh tuyên truyền lan tỏa giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.

Đây là giải pháp trực tiếp củng cố nền tảng tư tưởng, tạo sức đề kháng trước các quan điểm sai trái, thù địch. Công tác lãnh đạo tư tưởng cần được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ, bảo đảm định hướng đúng đắn, kịp thời trước những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Trên cơ sở quán triệt nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, trọng tâm là: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới...

Công tác giáo dục chính trị phải được đổi mới về nội dung và phương pháp, gắn lý luận với thực tiễn, chú trọng tính thuyết phục, tính chiến đấu và khả năng “tự miễn dịch” trước thông tin xấu, độc. Cùng với đó, công tác tuyên truyền cần chuyển mạnh theo hướng chủ động, hiện đại, lấy “xây” làm chính; tập trung lan tỏa những hình ảnh, tấm gương tiêu biểu của Bộ đội Cụ Hồ trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; nghiên cứu, lao động sản xuất, tăng cường tự chủ, tự lực, tự cường; giúp dân phát triển kinh tế; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh...

Về biện pháp, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, xuất bản, văn học-nghệ thuật và các nền tảng số; đa dạng hóa sản phẩm truyền thông, tăng tính tương tác, phù hợp với từng đối tượng, nhất là thế hệ trẻ; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền tích cực với đấu tranh phản bác thông tin sai trái.

Ba là, chủ động nhận diện, dự báo và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc nền tảng tư tưởng trong môi trường số.

Giải pháp này giữ vai trò “đi trước, đón đầu” trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng và giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, bởi nếu không nhận diện kịp thời, dễ rơi vào thế bị động, xử lý chậm, làm suy giảm hiệu quả đấu tranh. Do đó, cần nâng cao năng lực phát hiện sớm, phân tích đúng bản chất, mục đích, thủ đoạn của các thông tin sai trái; phân biệt rõ giữa ý kiến góp ý mang tính xây dựng với các quan điểm chống phá, xuyên tạc. Theo đó, cần xây dựng và vận hành hiệu quả các kênh nắm bắt, tổng hợp, phân tích dư luận xã hội theo hướng đa chiều, nhất là trên môi trường số; phát triển lực lượng chuyên trách có trình độ, kỹ năng công nghệ, am hiểu truyền thông và có bản lĩnh chính trị vững vàng. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát, phát hiện xu hướng thông tin, từ đó chủ động dự báo tình hình, kịp thời cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận từ sớm, từ xa.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững uy tín và bản chất tốt đẹp của Quân đội.

Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp trong việc nuôi dưỡng, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ngay từ bên trong mỗi cơ quan, đơn vị. Môi trường văn hóa lành mạnh, giàu tính nhân văn sẽ tạo điều kiện để các chuẩn mực tốt đẹp được hình thành, lan tỏa và trở thành hành vi tự giác của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời là “hàng rào mềm” ngăn ngừa các biểu hiện lệch chuẩn. Tuy nhiên, môi trường đó chỉ thực sự bền vững khi được bảo đảm bằng kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh.

Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phong phú với tăng cường quản lý, rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, nhất là người chỉ huy; kiên quyết đấu tranh, xử lý dứt điểm các biểu hiện vi phạm, không để các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Quân đội ta.


Đại tá, TS TRẦN XUÂN ĐÁN, Quyền Phó Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng, Công tác chính trị, Học viện Quốc phòng

Pháp luân công còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra n...
21/04/2026

Pháp luân công còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992; sau đó Lý Hồng Chí đã sang Mỹ định cư. Năm 1993, hội nhóm này được biết đến với tên gọi “Hội nghiên cứu Pháp luân đại pháp” được Bộ Dân chính Trung Quốc cấp phép hoạt động.
Sau 30 năm, thực tế cho thấy Pháp luân công không phải tôn giáo, tín ngưỡng, cũng không có sự sáng tạo nào kể cả kết quả nghiên cứu khoa học hay lý thuyết tư tưởng hệ, mà chỉ dựa trên cơ sở vay mượn, cắt xén của các tôn giáo khác để hình thành. Cụ thể, Pháp luân công tự cho mình là một hệ phái Phật giáo, nhưng các bài tập theo Pháp luân công bản chất là sự tạp pha theo lịch sử khí công đã được nhà sư Phật giáo, võ sỹ Đạo giáo và học giả Nho giáo luyện tập từ xa xưa, xem như một hình thức cải thiện tinh thần, đạo đức và thể chất.
Các đối tượng tuyên truyền, người tập luyện Pháp luân công sẽ sửa được tâm tính, chữa được bách bệnh chỉ bằng các bài tập khí công của Lý Hồng Chí. Tổ chức của Pháp luân công không có nhà thờ hoặc nơi thờ tự, quyền năng chỉ được trao duy nhất trong các bài giảng của người thành lập là Lý Hồng Chí. Xét về phạm vi tổ chức, Pháp luân công được thực hiện thông qua cộng đồng kết nối toàn cầu chủ yếu là trực tuyến. Lý Hồng Chí dùng các trang thông tin điện tử để điều phối hoạt động và giảng bài.
Pháp luân công du nhập vào Việt Nam từ những năm 2000. Hai người Việt Nam tập Pháp luân công đầu tiên là Nguyễn Nam Trung ở thành phố Hồ Chí Minh và Trần Ngọc Trí ở thành phố Hà Nội. Đến nay, tại Việt Nam có khoảng trên 7.000 người tham gia, luyện tập tại 565 điểm nhóm, tập trung chủ yếu ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Để tuyên truyền về Pháp luân công, các đối tượng đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau như: phát tán nơi công cộng hoặc trong khu dân cư; lập các trang Web và tài khoản mạng xã hội truyền bá qua Internet; gửi tài liệu qua đường bưu chính đến nhiều đối tượng khác nhau; tiếp cận những vùng dân trí còn hạn chế để lôi kéo tham gia…
Pháp luân công vào Việt Nam đã gây không ít hệ lụy tiêu cực cho xã hội. Hiện tại, Pháp luân công không được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, mọi hành vi truyền bá Pháp luân công trên lãnh thổ Việt Nam đều là trái pháp luật.
Thời gian gần đây, Pháp luân công ra sức tuyên truyền tà thuyết về sự trừng phạt mà mỗi người phải gánh chịu khi đến “ngày tận thế” để hù dọa, khống chế, kiểm soát tinh thần những người cả tin, nhẹ dạ. Một số đối tượng còn thần thánh hóa Lý Hồng Chí là người tạo ra thế giới muôn loài và cứu giúp chúng sinh. Do tin tưởng vào những luận điệu thiếu căn cứ nêu trên, những người tin theo Pháp luân công khi có bệnh đã từ chối điều trị tại các cơ sở y tế vì cho rằng luyện theo Pháp luân công sẽ chữa được “bách bệnh”, dẫn đến hậu quả đau lòng.
Nghiêm trọng hơn, từ sự mê muội mà một số người theo Pháp luân công đã tự biến mình thành tội phạm. Điển hình như vụ án xảy ra vào năm 2019, tại tỉnh Bình Dương, đối tượng Phạm Thị Thiên Hà đã cầm đầu một nhóm tu luyện Pháp luân công thực hiện hành vi giết chết 02 người rồi cho vào bồn nhựa đổ bê tông hòng phi tang xác nạn nhân. Nguyên nhân xuất phát từ sự mâu thuẫn cá nhân trong quá trình "tu tập" giáo phái lạ...
Trước tình hình dịch bệnh Covid-19, các đối tượng luyện tập Pháp luân công tại Việt Nam đã ra sức tuyên truyền, phát tán tài liệu nhằm mục đích kêu gọi sự tham gia của nhiều người cùng vào luyện tập. Điển hình như vụ việc đưa nội dung tuyên truyền Pháp luân công vào gói khẩu trang để phát tán, bị lực lượng Công an tỉnh Hà Tĩnh phát hiện vào cuối tháng 3/2020. Vào tháng 4/2020, Công an tỉnh Bình Phước cũng phát hiện 02 đối tượng lợi dụng việc phát cơm từ thiện để phát tán tài liệu tuyên truyền về Pháp luân công.
Ngoài ra, lực lượng Công an cũng đã phát hiện trường hợp các đối tượng luyện tập Pháp luân công tung tin giả trên mạng xã hội. Điển hình là vào ngày 13/8/2021, đối tượng Nguyễn Thị Tuyết (trú tại tỉnh Ninh Bình) đã sử dụng điện thoại truy cập vào tài khoản Facebook của mình có tên là “Quang Minh” và đăng tải, chia sẻ bài viết trên mạng xã hội với nội dung “Nhờ niệm 9 chữ chân ngôn” Pháp luân công để chữa khỏi Covid-19 và khẳng định trong vòng 10 ngày chuyển từ dương tính sang âm tính, không còn triệu chứng “Không 1 viên thuốc, không 1 phương cách nào khác”. Nội dung bài viết do Nguyễn Thị Tuyết đăng tải là hoàn toàn bịa đặt, không có cơ sở khoa học, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Người dân cần nhận diện rõ bản chất của Pháp luân công, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi xuất hiện người có hành vi truyền bá Pháp luân công trên địa bàn.
https://bocongan.gov.vn/.../nguoi-dan-can-nhan-dien-ro...

✨KỶ LUẬT LÀ SỨC MẠNH CỦA QUÂN ĐỘI✨✨Kỷ luật là yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh chiến đấu, bản lĩnh, uy tín và danh dự của...
10/04/2026

✨KỶ LUẬT LÀ SỨC MẠNH CỦA QUÂN ĐỘI✨

✨Kỷ luật là yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh chiến đấu, bản lĩnh, uy tín và danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong bất kỳ hoàn điều kiện, cảnh nào, thời chiến hay thời bình, trên chiến trường hay trong sinh hoạt, kỷ luật luôn là “mạch sống” - thước đo phẩm chất, nhân cách của mỗi quân nhân. Bởi vậy, mọi hành vi vi phạm kỷ luật, dù nhỏ nhất, đều có thể kéo theo những hệ lụy to lớn, nghiêm trọng, đúng như điều cảnh báo: “Sai một bước, rước họa vào thân”.

1. Kỷ luật trong Quân đội là hệ thống những quy định, điều lệnh, điều lệ, chế độ, nền nếp được xây dựng công phu, nghiêm túc, chặt chẽ nhằm bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động của toàn quân. Đó không chỉ là những mệnh lệnh mang tính bắt buộc, mà còn là chuẩn mực tự giác, là “thước đo” phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong, phong cách của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong hoạt động quân sự và đời sống xã hội.

✨Sở dĩ nói kỷ luật là sức mạnh chiến đấu, chiến thắng, bởi quân đội là tổ chức vũ trang “đặc biệt”, có tính tập thể và tính tổ chức cao. Trong chiến đấu, chỉ cần một cá nhân lơ là, vi phạm mệnh lệnh chiến đấu có thể làm đổ vỡ cả kế hoạch, ảnh hưởng đến tính mạng, xương máu của đồng chí, đồng đội và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Ngược lại, khi mọi quân nhân đều chấp hành nghiêm kỷ luật, tạo nên sự thống nhất tuyệt đối, sự tuân thủ nghiêm ngặt, thì chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của đơn vị được nhân lên gấp bội. Lịch sử đã chứng minh, mọi thắng lợi của Quân đội ta đều gắn liền với kỷ luật nghiêm minh, tự giác và những chiến thắng vẻ vang.

✨Kỷ luật quân đội có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, thống nhất với pháp luật Nhà nước. Nếu Hiến pháp và pháp luật là khuôn khổ chung điều chỉnh hành vi của công dân thì kỷ luật quân đội là sự cụ thể hóa, chặt chẽ và nghiêm khắc hơn trong môi trường đặc thù: hoạt động quân sự, quân nhân được sử dụng vũ khí, trang bị quân sự để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền hòa bình và hạnh phúc của nhân dân. Ở đó, mỗi quân nhân vừa là người lính, vừa là công dân, nên việc chấp hành kỷ luật quân đội cũng chính là thực hiện nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Đây là “hai trong một nhiệm vụ thống nhất”, không thể tách rời.

✨Vi phạm kỷ luật quân đội vì thế không chỉ là sai sót cá nhân, mà còn là hành vi làm suy yếu sức mạnh đơn vị, ảnh hưởng đến uy tín của Quân đội. Chỉ một bước sai lầm dù là nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, nặng nề về danh dự, sự nghiệp, thậm chí là pháp lý, đúng như lời cảnh tỉnh, cảnh báo: “Sai một bước, rước họa vào thân”; mất cả tinh thần lẫn sự nghiệp.

2. Tác hại của vi phạm kỷ luật và bài học kinh nghiệm cần thấu triệt “từ sớm, từ xa” đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ để mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân là rất lớn và sâu sắc.

Thứ nhất, vi phạm kỷ luật làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Khi một quân nhân không chấp hành mệnh lệnh, sẽ phá vỡ tính thống nhất, gây rối loạn trong tổ chức và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ chung.

Thứ hai, vi phạm kỷ luật làm tổn hại đến uy tín, danh dự của Quân đội; của “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được nhân dân tin yêu bởi phẩm chất “trung với Đảng, hiếu với dân”. Những hành vi vi phạm, dù là cá biệt, cũng có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, làm giảm sút niềm tin của nhân dân; hủy hoại danh tiếng “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thứ ba, vi phạm kỷ luật gây thiệt hại trực tiếp cho bản thân người vi phạm. Tùy theo mức độ, có thể bị xử lý kỷ luật, giáng cấp, tước danh hiệu quân nhân, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sự nghiệp, mà còn tác động đến gia đình: bố mẹ, vợ con và dòng tộc, tương lai lâu dài của bản thân.

Thứ tư, vi phạm kỷ luật tạo ra tiền lệ xấu, làm suy yếu môi trường giáo dục, rèn luyện trong đơn vị, gây ra “vết đen” trong lịch sử truyền thống đơn vị - điều “xui xẻo” không nên có của cuộc đời quân ngũ. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, sẽ dễ dẫn đến tình trạng “nhờn luật”, làm giảm tính nghiêm minh của tổ chức; uy tín và công trạng của tập thể.

Từ những tác hại đó, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sâu sắc. Trước hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nhận thức rõ kỷ luật là danh dự của quân nhân, là yếu tố sống còn của Quân đội. Hai là, phải đề cao tinh thần tự giác, không chờ nhắc nhở, mà chủ động tu dưỡng, rèn luyện; luôn “tự soi, tự sửa” để tự mình tiến bộ mỗi ngày. Ba là, cán bộ các cấp phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, lấy hành động thực tiễn để giáo dục cấp dưới. Bốn là, cần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, kỷ cương, nơi mọi hành vi vi phạm đều được phát hiện “từ sớm, từ xa”, xử lý nghiêm minh, không có “vùng cấm”.

3. Để mỗi cán bộ, chiến sĩ tự giác chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước, trước hết cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; đạo đức và pháp luật, nhất là học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Làm cho mọi quân nhân hiểu rõ vị trí, vai trò của kỷ luật “thép”, thấy được trách nhiệm và danh dự của mình trong tập thể.

Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh rèn luyện, tự rèn luyện trong thực tiễn, rèn đức, rèn sức, luyện tài. Kỷ luật không chỉ học trên giấy, trong hội trường, giảng đường, mà phải được hình thành qua từng hành động cụ thể trong đơn vị: đúng giờ giấc, đúng điều lệnh, đúng quy định chế độ trong ngày, trong tuần. Thói quen chấp hành nghiêm từ những việc nhỏ sẽ tạo nên bản lĩnh vững vàng trong những tình huống phức tạp.

Công tác quản lý, chỉ huy cũng cần được nâng cao. Cán bộ phải sâu sát, nắm chắc tình hình tư tưởng bộ đội, kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc từ trong “trứng nước”. Đồng thời, thực hiện nghiêm nguyên tắc thưởng - phạt công minh, tạo động lực phấn đấu và răn đe hiệu quả.

Ngoài ra, mỗi quân nhân cần thường xuyên “tự soi, tự sửa”, “tự phê bình và phê bình”, lấy chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm thước đo phấn đấu. Đó là sự trung thành tuyệt đối, tinh thần trách nhiệm cao, lối sống trong sạch, kỷ luật tự giác, nghiêm minh.

Trong bối cảnh tình hình mới, khi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, việc giữ vững và phát huy kỷ luật “thép” càng trở nên cấp thiết. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần khắc ghi: chấp hành kỷ luật là bảo vệ chính mình, bảo vệ đơn vị và góp phần giữ vững hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Bởi chỉ cần một phút lơ là, một hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, cũng có thể phải trả giá đắt. Nên nhớ: “sai một bước, rước họa vào thân”./.

Nguồn BáoQĐND

Định hướng chiến lược xây dựng Quân đội trong tình hình mới“2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa”:     2 kiên địnhKiên...
10/04/2026

Định hướng chiến lược xây dựng Quân đội trong tình hình mới

“2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa”:

2 kiên định

Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng.

Kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

2 Đẩy mạnh:

Đẩy mạnh hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Đẩy mạnh phát triển nghệ thuật quân sự và trí tuệ bộ đội.

2 Ngăn ngừa:

Ngăn ngừa nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Ngăn ngừa rủi ro chiến lược, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT CUỘC “NỘI CHIẾN” ...
10/04/2026

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT CUỘC “NỘI CHIẾN”
ĐÀM TRUNG
Chiến thắng mùa xuân năm 1975 của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc ta, không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mà còn có ý nghĩa và tầm vóc thời đại. Tuy nhiên, vẫn có những kẻ cố tình xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến và cho rằng, đây là một cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc.
Cần khẳng định, đây là một âm mưu thâm độc nhằm phủ nhận sự thật lịch sử một cách trắng trợn, xuyên tạc tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời bác bỏ tính chính danh của Đảng cộng sản Việt Nam. Điều này cần phải được đấu tranh làm rõ. Những minh chứng dưới đây sẽ cho chúng ta cái nhìn đúng đắn và thấu suốt về bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chiến thắng 30/4/1975.
Đại hội lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[1].
Phải khẳng định rằng, Mỹ đã có âm mưu xâm lược Việt Nam từ thời Pháp trở lại xâm lược nước ta. Kế hoạch quân sự Nava là chung của cả Pháp và Mỹ, trong đó chi phí vật chất phần lớn do Mỹ thực hiện trong 2 năm 1953 và 1954. Mỹ không chỉ can thiệp, mà là lực lượng chỉ đạo cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương
Nghị quyết HNTW6, khóa II của Đảng (7-1954) đã phân tích tình hình và nêu rõ: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Chúng đang ráo riết xúc tiến việc thành lập khối xâm lược Đông Nam Á, dùng Đông Dương làm bàn đạp để mở rộng chiến tranh xâm lược. Chúng cố giữ tình hình quốc tế căng thẳng để lợi dụng bán vũ khí kiếm lời, ráo riết chuẩn bị chiến tranh, uy hiếp hoà bình thế giới. Vì vậy, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”[2].
Điều 1 Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã ghi rõ: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneve năm một nghìn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đã công nhận”[3]. Nhưng điều này đã không được Hoa Kỳ tôn trọng, thực hiện mà đã lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, để cuối cùng chịu một kết cục cay đắng.
Cựu Tổng thống Mỹ Ken – Nơ – Đi đã từng nói: “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”[4]. Một tờ báo lớn của Mỹ cũng từng đưa ra bình luận rằng: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”[5].
“Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ đã viện trợ quân sự cho Pháp 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh”[6]. Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam vào năm 1955, lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”. Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu.
Từ năm 1965 đến tháng 1-1973, Mỹ đã huy động khoảng 3 triệu lượt quân Mỹ sang miền Nam Việt Nam. Ở đỉnh cao trong thời kỳ 1968-1969, có 638.000 quân Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến, trong số này có 535.000 quân Mỹ đóng ở miền Nam Việt Nam. Mỹ đã huy động một khối lượng khổng lồ vũ khí, khí tài kỹ thuật vào loại hiện đại nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bao gồm: 1270 máy bay chiến đấu; 65 tàu chiến và tàu đổ bộ (trong đó có từ 4 đến 5 tàu sân bay); 18 loại xe tăng, thiết giáp; 17 kiểu loại pháo binh; 12 kiểu loại tên lửa; 14 loại bom mìn; 27 loại lựu đạn, đạn hóa học, bom cháy. Từ 1965 đến tháng 8-1973, Mỹ đã dùng 7.882.547 tấn bom đạn không quân ở Đông Dương (trong đó khoảng: 3.770.000 tấn ở miền Nam Việt Nam; 937.000 tấn ở miền Bắc Việt Nam)[7].
Mỹ đã tiêu tốn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 400 tỷ đô la, gấp 20 lần chi phí của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên và gấp 2 lần chi phí của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai (250 tỷ đô la)[8].
Tội ác của Mỹ và quân chư hầu ở Việt Nam không sao kể xiết. Trong Chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh đã gây ra hàng loạt tội ác như giết người, hãm hiếp, đánh đập tù nhân, ném bom vào thường dân, rải chất độc da cam v.v... Nổi bật như các vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1968, 2 vụ ném bom phố Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai năm 1972…
Số liệu về thương vong của phía Việt Nam được chính thức công bố gần đây nhất là gần 2 triệu thường dân chết; hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời. Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 1,1 triệu quân nhân hy sinh, trong số đó có khoảng 300.000 quân nhân chưa tìm được hài cốt [9].
Riêng về chiến tranh hoá học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam: Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã rải khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ và phát quang xuống 24,67% tổng diện tích lãnh thổ Việt Nam, trong đó phần lớn là chất độc màu da cam. Hơn 3 triệu ha rừng bị tàn phá nặng nề; khoảng 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm chất độc hoá học[10]. Việc sử dụng chất độc da cam không chỉ hủy hoại môi trường sinh thái mà còn để lại hệ lụy hết sức đau lòng đối với sức khỏe con người Việt Nam. Nhiều nạn nhân bị chết do chất độc, hàng trăm nghìn người đang phải vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo. Theo khảo sát tại một số địa phương cho thấy, hậu quả chất độc da cam đã di truyền sang thế hệ thứ tư. Hàng chục nghìn trẻ em bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, sống đời sống thực vật.
Cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam là thất bại nặng nề nhất của quân đội Mỹ từng phải gánh chịu. Theo danh sách của Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, tổng số thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam là 365.157 quân, trong đó có 58.168 người chết trong lúc giao tranh (trong đó có 7.878 sĩ quan, 426 tư lệnh và sĩ quan chỉ huy, 37 người cấp tướng)[11]. Hàng chục ngàn người khác bị mắc “hội chứng Việt Nam”, bị rối loạn tâm thần, nghiện ma tuý…
Ta đã thu và phá hủy hơn 46.500 máy bay các loại, hơn 13.000 khẩu pháo, 38.000 xe tăng, xe bọc thép, 10.000 tàu, xuồng chiến đấu. Bắn rơi 4.181 máy bay (trong đó có 68 B52; 13 F111: tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn giặc lái; 271 lần bắn cháy và bắn chìm tàu chiến, tàu biệt kích địch[12]. Trong toàn bộ lịch sử hơn 200 năm của Hoa Kỳ, đây là thất bại lớn nhất của họ.
Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ chưa bao giờ thực sự coi trọng lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ (và việc sát hại loại bỏ Diệm – Nhu là một ví dụ). Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn vẫn không hề thay đổi. Dù đã rút quân đội viễn chinh về nước (29/3/1973), Mỹ vẫn thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Sài Gòn cùng với lực lượng vật chất, khối lượng vũ khí, phương tiện chiến tranh khổng lồ.
Trong tác phẩm của mình với tư cách người trong cuộc, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.McNamara nêu rõ: “Có 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam” trong đó, ông nhấn mạnh nguyên nhân thứ 3: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới”[13].
Nhắc lại sự thật lịch sử không phải để hận thù mà để nhận thức đúng bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch về chiến tranh Việt Nam. Cần khẳng định, Chiến tranh Việt Nam là sự xâm lược của đế quốc Mỹ đối với đất nước Việt Nam, đây cũng là cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đem lại hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam./.
----------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà nội, 2011, tr. 471.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T. 15, tr. 225.
[3]. Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2004, tr. 481.
[4]. R.S. Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 44.
[5]. Christian G. Appy: “What Was the Vietnam War About?”, The New York Times, ngày 26-3-2018, https://www.nytimes.com/.../what-was-the-vietnam-war....
[6] https://tuyengiao.hungyen.dcs.vn/phe-phan-cac-quan-diem...
[7][8][12]. https://stc.bacgiang.gov.vn/.../mot-so-tu-lieu-ve-cuoc...
[9][11]. https://ussh.vnu.edu.vn/.../hau-qua-cua-cuoc-chien-tranh...
[10]. https://vava.org.vn/.../120-cau-hoi-dap-ve-chat-doc-da...
[13]. Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 43.

Address

207 Phù Đổng Thiên Vương, Phường Lâm Viên/
Đà Lạt
670000

Opening Hours

Monday 07:00 - 11:30
13:00 - 17:00
Tuesday 07:00 - 11:30
13:30 - 17:00
Wednesday 07:00 - 11:30
13:30 - 17:00
Thursday 07:00 - 11:30
13:30 - 17:00
Friday 07:00 - 11:30
13:30 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Trường Đại học Đà Lạt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Trường Đại học Đà Lạt:

Share