Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin Tập thể lớp de13tt40

25/10/2016

NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM

Để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ông cha ta đã sử dụng nhiều con đường gắn với những khuynh hướng chính trị khác nhau. Xong tất cả các phong trào của ông cha ta mặc dù đã diễn ra vô cùng anh dũng, nhưng đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu.
Mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha ta, nhưng Bác Hồ kính yêu của chúng ta không tán thành các con đường cứu nước của họ, người quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới. Hồ Chí Minh đến nhiều quốc gia và Châu lục trên thế giới. Người đã tiếp xúc với bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tìm hiểu thực tiễn cách mạng Mỹ; Đọc bản tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của cách mạng Pháp, tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản. Cách mệnh không đến nơi, không triệt để, tiếng nói là cộng hòa là dân chủ. Kỳ thực bện trong thì nó bóc nột công nông trong nước, ở ngoài thì áp bức thuộc địa:. Bởi lẽ đó, người không đi theo con đường cách mạng tư sản.
Hồ Chí Minh thấy được cách mạng tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc cách mạng tư sản, mà còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sỹ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Hồ Chí MInh đã đến với học thuyết chính trị vô sản.

Thứ nhất : “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”, “ chỉ có chủ nghĩa xã hội , chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, rút kinh nghiệm của cáXuất phát từ thực tiễn Việt Nam, rút kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trước đó. Xuất phát từ thực tiễn thế giới, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản. Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tuy đã giành thắng lợi hơn 150 năm nay mà nhân dân lao động vẫn khổ và họ đang muốn làm cách mạng tư sản chỉ thay thế chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác tinh vi hơn chứ không xóa bỏ được áp bức bóc lột, vì thế Người cho rằng đó là những cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để. Do đó, cứu nước theo ngọn cờ của giai cấp tư sản không phải là lối thoát cho dân tộc.
Người thấy được các cuộc cách mạng này không triệt để nên không lựa chọn. Nghiên cứu cách mạng tháng Mười Nga, Người thấy đay là cuộc cách mạng triệt để ( cách mạng vô sản). Người đã nhận định cuộc cách mạng của chúng ta phải đi theo cách mạng tháng Mười Nga.
Từ đầu những nam 20 thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa 2 vòi, một vòi bám vào chính quốc, môt òi bám vào thuộc địa. Man cut be được hai cái vòi của nó đi, ta phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; phải xem cách mạng, đánh bại chủ nghĩa đế quốc, mặt khác, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đây là nhận định đúng đắn mang tính sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc xác định con đường cách mạng ở Việt Nam, là yếu tố quan trọng trong việc góp phàn quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Thứ hai: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. NAQ đã sớm khẳng đinh: Muốn giải phogs dân tôc thành công “ trước hết phải có đảng cách mênh”, “ đảng có vững cách mệnh mới thành công” đến với chủ nghĩa Mac-Lênin Hồ Chí Minh đã thẫy sự cần thiết, và tầm quan trọng của một chính đảng cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bác đã khẳng định rằng : “ Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái con thuyền có vững thì thuyền mới chạy… Đảng muốn vững mạnh thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mac- Lênin”.
Thực tế đã chứng minh:
Từ khi ra đời đến nay Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đầu năm 1930, Người sáng lập Đảng Cộng sản Viêt nam- một chính đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mac- Lênin “ làm cốt, có tổ chức chặt chẽ”. Hồ Chí Minh đã xây dựng một đảng tiên phong , phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn bó với nhân dân, với dân tộc, một lòng một dạ phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, được nhân dân, được dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam. Đó là một ưu điểm của Đảng. Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng.
Thứ ba: Cách mạng giải phóng đân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông.
Trên nền tảng của chủ nghĩa Mac-Lênin, Hồ Chí Minh cũng khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhưng khái niệm “ dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh có phạm vi rộng hơn so với chủ nghĩa Mac-Lênin, quốc tế cộng sản và các vị yêu nước cách mạng tiền bối”. Người cho rằng: “ để có cơ thắng lợi, thì phải thực hiện một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương, cuộc khởi nghĩa này phải có tính chất là một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải là một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng…”, “ Cách mện là việc chung cả dân chúng chư không phải việc của một hai người?
Trong cách mạng thang Tám 1945 cũng như hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh. Quan điểm “ lấy dân làm gốc” xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người. Khi còn hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “ Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đua họ ra đấu tranh giành độc lập”.
Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang. Người coi sức mạnh vĩ đại à năng lưccj sáng tạo vô tận của quần chúng nhân dân là then chốt bảo đảm thắng lợi. Người khẳng định: “ Dân khí mạnh thì quan lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”. “ Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ đich không thể nào tiêu diệt được”. “ chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng của dân tộc”.
Trong lực lượng đó Hồ Chí Minh đã xác định: công – nông là “gốc” của cách mạng là lực lượng dông đảo nhất,nên có sức mạnh lớn nhất.Họ bị áp bức bóc lột nặng nề nhất,nên có tinh thần cách mạng cao nhất.Khẳng định vai trò động lực cách mạng của công nhân và nông dân là một vấn đề hết sức mới mẻ so với nhận thức của những nhà yêu nước trước đó.Đảng phải tập hợp đại bộ phận của giai cấp công nhân,tập hợp đại bộ phận của nông dân và dựa vào dân cày nghèo,lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất.
Bên cạnh đó Hồ Chí Minh không coi nhẹ khả năng tham gia sựu nghiệp giải phóng dân tộc của giai cấp và tầng lớp khác.Người coi tiểu tư sản,tư sản dân tộc và một bộ phận giai cấp địa chủ là bạn đồng minh của cách mạng.Lôi kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp.Người chỉ rõ:Trí thức,tiểu thương,tiểu chủ cũng bị tư bản áp bức,song không cực khổ bằng công nhân và nông dân, và coi đó là bầu bạn của cách mạng.Đối với phú nông,trung nông,tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phải của cách mạng thì phải lợi dụng,ít lâu mới làm họ đứng trung lập,bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ bộ phận ấy
Ngoài lực lượng cách mạng ở trong nước Bác còn chú ý đến lực lượng của các nước chính quốc,các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Đối tượng cách mạng giải phóng dân tộc là chủ nghĩa thực dân phong kiến.Chủ nghĩa thực dân được chia ra:
1.Thực dân phản động là đối tượng mà cách mạng cần đánh đổ.
2.Thực dân chính trực là những kỹ sư,bác sỹ doanh nhân các nhà quản lý,kinh doanh… đến để chuyển giao công nghệ thì ta tiếp đón mở cửa cho các đối tượng này đến trao đổi buôn bán.
3.Phong kiến tay sai phản động là lực lượng nhỏ nhưng là lực lượng cách mạng Việt Nam cần phải đánh đổ.Phong kiến tay sai chưa rõ mặt phản cách mạng thì ta nên lôi kéo và trung lập.Ngoài ra cách mạng ta còn cần phải đánh đổ đồng minh các nước chư hầu của thực dân và phong kiến.
Đây là điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh,Ngườ xác định cách mạng muốn đi đến thắng lợi thì yếu tố quan trọng là sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc trên thế giới.Dựa vào sức mạnh của toàn dân trên cơ sở liên minh công –nông
Thứ tư:Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động ,sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Đây là mộ luận điểm mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh.Trong phong trào cộng sản quốc tế,các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin lúc bấy giờ đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào cách mạng vô sản chính quốc-chỉ khi nào cách mạng chính quốc giành thắng lợi thì cách mạng thuộc địa mới giành được thắng lợi.
Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc ,do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghiã yêu nước và tinh thần dân tộc,Hồ Chí Minh không chỉ nhìn thấy mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc một cách tinh tế,mà còn nhìn thấy những nhân tố mới khác so với quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin và quốc tế cộng sản.Ngay từ năm 1924,Người đã sớm cho rằng cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể dành thắng lợi trước.Đây là một cống hiến rất quan trong vào kho tàn lý luận Mác Lênin , đã giành được những thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh đó là hoàn toàn đúng đắn.
Quan niệm nên trên của Hồ Chí Minh không nằm ngoài lý luận của chủ nghĩa Mách Lênin mà thể hiện sự vận dụng đúng đắn,sáng tạo của Hồ Chí Minh vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể.Cách mạng cần được tiến hành một cách triệt để,chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.
Thứ năm:Là cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực,kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang của nhân dân.
Theo Mac-Anghen: cách mạng vô sản ở chính quốc là cần thiết và được thực hiện trước. Theo Lênin: cách mạng ở thuộc địa phụ thuộc vào cchs mạng vô sản ở chính quốc. Còn theo Hồ Chí Minh: Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động và có khả năng giành thắng lợii trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Hồ Chí Minh vận dụng những nguyên lý mà C.Mác đưa ra: “ Sự giải phóng của giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được bởi giai cấp công nhân” để đưa đến khẳng định: “ Công cuộc giải phóng công nông chỉ có thể thực hiện được bặng sự nỗ lực của bản thân giai cấp công nông. Vì thế nên công cuộc giải phóng dân tộc thuộc địa phải do chính các dân tộc đó thực hiện. Đánh giá đúng bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã xác định: “ Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo về chính quyền”. Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “ tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức dấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo léo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”. Tuy nhiên, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc khi không còn khả năng hòa hoãn thì Hồ Chí Minh mới quyết định phát động chiến tranh.
Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã bày tỏ quan điểm: “ chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hòa bình. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước. Hay trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thông điệp cho các nhà cầm quyền Mỹ đề nghị đàm phán hòa bình để kết thúc chiến tranh. Tư tưởng bạo lực cách mạng và tư tưởng nhân đạo thông nhất biện chững với nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người luôn tranh thủ mọi khả năng hòa bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải dùng bạo lực cách mạng để bảo vệ dộc lập, tự do của dân tộc.
Hồ Chí Minh nhận thấy sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là dựa trên sự bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc và nhan dân các dân tộc thuộc địa vì vậy cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa thì mới tiêu diệt được hoàn toàn trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa tư bản chủ yếu dựa vào việc bóc lột nhân dân các nước thuộc địa vì vậy cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc trước chẳng khác nào đánh rắn đằng đuôi.
Theo Hồ Chí Minh, chính cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có sức bật thuân lợi hơn vì những nguyên nhân:
+ Chính sách khai thác thuộc địa hết sức tàn bạo của Chủ nghĩa đế quốc làm mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa với Chủ nghĩa đế quốc ngày càng gay gắt vì vậy mà tiềm năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn.
+ Tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc chân chính của các dân tộc thuộc địa là một sức mạnh tiềm ẩn của Cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh đó nếu được chủ nghĩa Mac-Lênin giác ngộ và soi đường thì cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa sẽ có một sức bật rất lớn và có khả nănng chủ dộng cao so với cách mạng vô sản ở chính quốc.
+ Thuộc địa là khâu yếu của chủ nghĩa tư bản nên cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa dễ dàng giành chính quyến hơn.
Như vậy đây là một luận điểm có ý nghĩa thực tiễn to lớn giúp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt nam không thụ động, ỷ lại chờ sự giúp đõ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực, tự cường nhờ đó mà cách mạng Việt nam giành thắng lợi vĩ đại. Góp phần định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trên thế giới trong thời kỳ đó.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một nội dung lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy trong xây dựng và bảo về đất nước hiện nay nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một yêu cầu quan trọng.
Nhân dân ta có lích sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.Trong đâu tranh chống kẻ thù xâm lược cũng như trong lao động sản xuất nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần chiến dấu ngoan cường, sự thông minh sáng tạo, ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Trong truyền thông dân tộc ấy Hồ Chí Minh nhìn thấy nổi bật lên sức mạnh của lòng yêu nước. Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc, vì phải luôn luôn đối đầu với nhiều khó khăn của tự nhiên và chiến tranh xâm lược, sự đô hộ của kẻ thù tử nhiều phương kéo đến. Lòng yêu nước việt Nam đã trở thành sức manh, một thứ đạo lý, một lẽ sống của mỗi người dân.
Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc đã phát huy lòng yêu nước truyền thống và nâng thành lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa. Tinh thần, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và lòng yêu nước phát huy được sức mạnh to lớn, tạo nên truyên thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân. Hồ Chí Minh đã làm nổi bật sức mạnh của con người Việt Nam, đó là sức mạnh thể lực và trí tuệ, sức manh của bề dày lịch sử và dũng cảm, của lòng tin chân chính không gì lay chuyển. Sức manh ấy bền vững và được nhân lên nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Thời đại của của chúng ta mở đầu bằng Cách mạng thang mười Nga 1917. Cuộc cách mạng này đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu thời đại mới trong lịch sử. Theo Hồ Chí minh sức mạnh thời đại là sức mạnh cảu giai cấp vô sản thế giới, của nhân dân lao động thế giới. Trong qua trình nhận thức và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mac-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy phải dựa vào sức mạnh của dân tộc là chủ yếu, đồng thời phải khai thác sức mạnh của thời đại. Những nội dung, nguyên tắc về kết hợp sức manh dân tộc với sức mạnh thời đại là một bộ phận quan trong trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thời đại ngày nay, đăc biệt là giai đoạn hiện nay đang diễn ra một cuộc đấu tranh gay gắt trên mặt trận tư tưởng cũng như về hoạt động thực tienx mà chúng ta cần nhận thức đúng đắn để tiến hành những hoạt đông quốc tế phù hợp phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Do vậy phải giáo dục cho nhân dân có được niềm tin về lý tưởng xã hội chủ gnhiax trong điều kiện thế giới có nhiều biến đổi. Cần phải xử lý nghiêm minh, công bằng đối với những hành vi vi phạm pháp luật làm suy thoái tư tưởng, băng hoại đạo đức xã hội. Hội nhập quốc tế mà không được chệch hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới.
Không ngừng bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống cảu dân tộc, làm cho bản sắc văn hóa được giữ vững và phát triển. Giữ vững tinh thần độc lạp tự chủ trong tiếp thu sức mạnh bên ngoài, kết hợp sực mạnh trong nước. Việc giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc chính đang, ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài là những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với việc “ mở cửa”. Công tác đối ngoại được xác định có vai trò quan trọng đối với việc kết hợp sực mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Tư tưởng về kết hợp sức manh dân tộc với sức manh thời đại là một nội dung lơn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được vận dụng và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung của tư tưởng này rất phong phú, sâu sắc về thời đại, về sự kết hợp cách sức mạnh này trong thực tiễn đấu tranh. Tư tưởng của Người còn thấm đượm chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, tính cách mạng triệt để nên ảnh hưởng to lớn đến cuộc đấu tranh lâu dài cho nhân dân các nước vì sự nghiệp “ giải phóng dân tộc, giải phóng xã hôi, giải phóng con người”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ bản được hình thành trong dầu thế kỷ XX và được tiếp tục được phát triển khá sinh động trong những thập kỷ sau trên cơ sở tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin và sự trải nghiệm thực tế trong những năm tháng Người đi tìm đường cứu nước.
Chặng đường lịch sử hơn 70 năm qua kể từ ngày ra đời đên nay, đảng công sản Việt Nam luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lênnin và những quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc đề ra chính sách dân tộc đúng đắn cho cách mạng VIệt Nam. CHính sách đó vừa phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại, nên nó đã được cộng đồng 54 dân tộc việt Nam đón nhận với niềm phấn khởi và đầy tin tưởng, cũng bởi lẽ đó mà cách mạng Việt nam có được sức mạnh to lơn để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bỏa vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Như vây, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc địa thành một hệ thống quan điểm mới mẻ, sáng tạo, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Đến với chủ nghĩa Mac-Lênin, xác đinh cứu nước theo khuynh hướng chính trị vô sản, nhưng con đường cách mạng giải phong dân tộc là do Hồ Chi Minh hoach định, chứ không phải tồn tại từ trước.
Hồ Chí Minh không tự rập khuôn mình trong nhưng nguyên lý có sẵn, không rập khuôn lý luận đấu tranh giai cấp vào điều kiên lịch sử ở thuộc địa, mà có sự kết hợp hài hòa vấn đề dân tộc với vân đề giai cấp. Gắn độc lập dân tộc với phương hướng xã hội chủ nghĩa.
Lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống những quan điểm sáng tạo, độc đáo. Lý luận đó phải trải qua những thử thách hết sức gay gắt. Song, thực tiễn đã chứng minh những lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh là đúng đắn.
Phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dan tộc của Hồ Chí Minh hết sức độc đáo và sáng tạo, thấm nhuần tính nhân văn. Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lý luân khởi nghĩa toàn dân, và chiên tranh nhân dân. Sử dụng quan điểm toàn diện để phan tích so sánh lực lượng giữa ta và địch.
Những sáng tạo cảu Hồ Chí Minh đã soi đường cho thắng lợi cách mạng Việt nam, giành lại độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân xây dựng nhà nước của dân, do dân, và vì dân. Chúng ta phải biết khơi dậy sức mạnh cảu chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Nguồn đông lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ đất nước: nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân : chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyêt tốt mọi quan hệ giữa các dân tộc anh em và trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

29/05/2015

Câu 6: Nêu các quan điểm của HCM về GPDT thuộc địa: Phân tích quan điểm của HCM: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc gồm 6 luận điểm:
1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
a) Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa
- Sự phân hóa của xã hội thuộc địa.
- Mâu thuẫn của xã hội thuộc địa.
- Đối tượng của cách mạng ở thuộc địa.
- Yêu cầu bức thiết của cách mạng thuộc địa.
- Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa.
- Tính chất của cách mạng thuộc địa.
b) Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
- Lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc.
- Giành độc lập dân tộc.
- Giành chính quyền về tay nhân dân.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
a) Rút bài học từ sự thất bại của các con đườngcứu nước trước đó
b) Cách mạng tư sản là không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga mới là cuộc cách mạng triệt để.
c) Con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.
3. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo
a) Cách mạng trước hết phải có Đảng
b) Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất. Trước hết Đảng phải khắc phúc các nhược điểm của các Đảng trước đó bằng xây dựng Đảng tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của Lênin. Đồng thời Đảng CSVN vừa là Đảng của giai cấp công nhân, vừa là Đảng của Dân tộc, Đảng của Nhân dân Việt Nam.
4. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc
a) Cách mạng là sự nghiệp của dân chúng bị áp bức
b) Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân tộc với nòng cốt là liên minh công-nông.
5. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
a) Cách mạng giải phóng dân tộc cần tiến hành chủ động, sáng tạo: Nắm vững so sánh lực lượng, chủ động phát triển lực lượng, nắm chắc và chớp thời cơ kịp thời.
b) Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc là bình đẳng nên nó có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
6. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực
a) Tính tất yếu của bạo lực cách mạng. Bạo lực cách mạng là sức mạnh bạo lực của quần chúng nhân dân.
b) Tư tưởng bạo lực cách mạng gắn bó hữu cơ với tư tưởng nhân đạo và hoà bình
c) Hình thái bạo lực cách mạng
Phân tích quan điểm của HCM: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Tư tưởng HCM về cách mạng giải phóng dân tộc gồm các luận điểm sau: - Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi cần phải đi theo con đường cách mạng vô sản - Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do đảng cộng sản lãnh đạo - Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc gồm toàn dân tộc - Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước CMVS chính quốc - Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng bạo lực cách mạng Trong đó, Quan điểm cách mạng giải phóng dân tộc phải chủ động … vô sản ở chính quốc : là một luận điểm mới của HCM. Trong PTCS quốc tế đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của CM thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của CMVS ở chính quốc. Đề cương về phong trào CM ở các nước thuộc địa và nừa thuộc địa được thông qua tại đại hội VI Quốc tế cộng sản( ngày 1_9_1928) cho rằng:Chỉ có thể thưc hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng dt thuộc địa khi GCVS giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Quan niêm này vô hình chung đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các PTCM ở các nước thuộc địa. Theo HCM giữa CM gpdt ở các nước thuộc địa và CMVS ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là CNĐQ. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ phụ thuộc.Năm 1925 HCM viết “CNTB là con đỉa có 1 cái vòi bám vào GCVS ở chính quốc và 1 cái vòi khác bám vào GCVS ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của GCVS; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị đứt sẽ lại mọc ra” Nhân dân các dt thuộc địa có khả năng CM to lớn. Theo HCM khối liên minh các dt thuộc địa là 1 trong những cái cánh của CMVS. Phát biểu tại đại hội V Quốc tế cộng sản(tháng 6_1924) Người khẳng định vai trò, vị trí chiến lược của CM thuộc địa:” vận mệnh của GCVS TG và đặc biệt là vận mệnh của GCVS ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vân mệnh của gc bị áp bức ở các nước thuộc địa…nọc độc và sức sống của con rắn độc TBCN đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”.Nếu xem thường CM ở thuộc địa tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi”. Vận dụng công thức của C.Mac: sự nghiệp gp GCCN phải là sự nghiệp của bản thân GCCN, Người đưa ra luận điểm:”công cuộc giải phóng anh em( nhân dân thuộc địa_TG) chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản than anh em”. Do nhận thức được vai trò, vị trí chiến lược của CM thuộc địa, đánh giá đúng sức mạnh dt, năm 1921 NAQ cho rằng CM gpdt ở các nước thuộc địa có thể dành thắng lợi trước CMVS ở chính quốc.Người viết: ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn TD lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những đk tồn tại của CNTB là CNĐQ, họ có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ gp hoàn toàn. Trong tác phẩm Đườn cách mệnh, HCM có sự phân biệt về nhiệm vụ của CMVS và CM gpdt và cho rằng: hai thứ CM tuy có khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.Người nêu VD” An Nam dt cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm GCCM cũng dễ. Và nếu công nông Pháp làm CM thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”. Đây là một luận điểm sáng tao, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, một cống hiến quan trọng của HCM vào kho tang lý luận CNML, đã được thắng lợi của PTCM gpdt trên toàn TG trong gần một thế kỷ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

29/05/2015

Câu 4: Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có những đặc trưng tổng quát nào?
Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
a. Cách tiếp cận
- HCM đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của nước ta.
- HCM tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ lập trường của một người yêu nước, với khát vọng giải phóng cho dân tộc.
- HCM tiếp cận từ phương diện đạo đức: Người cho rằng chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân; tôn trọng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển hoàn thiện, đề cao lợi ích xã hội.
- Phương diện kinh tế: Người nhận thức sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, đây là cơ sở để xác lập một hệ thống kinh tế mới, với sự phát triển của khoa học-kỹ thuật…
- Truyền thống văn hóa VN: Tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã có hàng ngàn năm…
b. Bản chất và đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội
Người có nhiều cách định nghĩa về CNXH:
- Định nghĩa tổng quát, xem xét CNXH, CNCS như là một chế độ XH hoàn chỉnh…
- Đinh nghĩa bằng cách chỉ ra một mặt nào đó của CNXH (kinh tế, chính trị…)
- Định nghĩa bằng cách xác định mục tiêu của CNXH, chỉ rõ phương hướng, phương tiện để đạt được mục tiêu đó…
- Định nghĩa bằng cách xác định động lực của CNXH…
Những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
-Chế độ chính trị: do nhân dân lao động làm chủ
-Về kinh tế:Kinh tế phát triển cao
-Về văn hóa:Phát triển cao về văn hóa, đạo đức
-Xã hội:Công bằng, hợp lý,văn minh
-Lưc lượng xây dựng CNXH: toàn dân, do Đảng lãnh đạo.

29/05/2015

Câu 3: Trong bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (ngày 7/5/1958) Hồ Chí Minh đã nêu ra “sáu cái yêu”. Hãy cho biết sáu cái yêu đó.
Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:
Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.
Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân.
Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.
Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.
Yêu khoa học và kỷ luật: Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỷ luật.

29/05/2015

Câu 2: Thế nào là Nhà nước của dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh?

Một Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải là một Nhà nước có Đức, dưới sự lãnh đạo của một Đảng là đạo đức, là văn minh. Nói Nhà nước có Đức là nói đến một nhà nước hướng tới bảo vệ và phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời với việc trừng trị một cách nghiêm khắc những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của nhân dân.
Tư tưởng về xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của Bác Hồ được hình thành rất sớm. Nhà nước của dân, do dân và vì dân được xây dựng trên cơ sở của một hiến pháp, một hệ thống pháp luật. Nhà nước ấy quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với đạo đức. Bản thân nhà nước, các bộ phận cấu thành nhà nước, công chức và cán bộ của nhà nước cũng được hình thành và hành động theo pháp luật và đạo đức.
Một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là nhà nước chung chung phi giai cấp. Bởi vì, đã là nhà nước, bao giờ nhà nước cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định. Cho nên Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam do nhân dân Việt Nam không phân biệt trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái, dân tộc xây dựng nên, theo cơ chế đại biểu, đại diện, rồi từ đó cử ra các cơ quan, hình thành bộ máy nhà nước. Nhà nước dân chủ nhân dân được xây dựng trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân và của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Nói nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội không phải là làm chủ tự do vô kỷ luật, không phải nói làm chủ là ai muốn làm gì thì làm, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội là làm chủ bằng nhà nước, có trật tự, có kỷ cương, có tổ chức, có pháp luật bảo đảm và bảo vệ. Cho nên, thực hiện quyền làm chủ của mình, nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội- Nghị viện nhân dân và Hội đồng nhân dân địa phương.
Ngay từ 1941, khi mới về nước, thành lập thí điểm Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh Hội, Bác Hồ đã có chủ trương: “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới, không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung, của toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai của đế quốc Pháp Nhật và những bọn phản quốc…, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam, hết thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”.
Với nhãn quan chính trị cực kỳ sắc bén, khi thời cơ đến, chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Bác Hồ tính đến việc thành lập Chính phủ lâm thời bằng một Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Tức là, xét trên bình diện chính trị và thông lệ quốc tế, Chính phủ lâm thời không phải do một giai cấp, một đảng phái nào lập ra mà do nhân dân đại hội lập ra. Chính phủ ấy, ngay từ khi mới ra đời đã ít nhiều bảo đảm và mang tính pháp lý.
Ngay sau ngày “Tuyên ngôn độc lập” 2-9-1945, ngày 3-9 Bác chủ trì phiên họp Chính phủ để giải quyết hàng loạt những khó khăn cực kỳ phức tạp được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhưng trong hàng loạt những công việc phải giải quyết ấy, có một nội dung mà Bác đặc biệt quan tâm là hoàn thiện về mặt pháp lý theo thông lệ quốc tế về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng phương thức tiến hành Tổng tuyển cử và cử ra Ủy ban soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ mới.
Chính việc tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Nghị viện nhân dân Quốc hội khoá I và việc thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta thể hiện ý chí của toàn dân tộc là một hoạt động chính trị bảo đảm về mặt quốc tế của Nhà nước ta. Các nước khác lúc đó tuy không công nhận Nhà nước ta do các lý do khác nhau, nhưng không nước nào bác bỏ được địa vị pháp lý đầy đủ của Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam đầu tiên 1946.
Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời là thành quả của cả dân tộc ta trong quá trình kháng chiến chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là sự chiến đấu hy sinh anh dũng của đồng bào, cán bộ đảng viên, Đảng ta từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Nhân ngày Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã chỉ rõ: “Các nhà nước trước đây do giai cấp thống trị đặt ra để thống trị nhân dân, còn Nhà nước ta hôm nay do nhân dân ta lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, thay mặt mình tham gia cơ quan quyền lực nhà nước, quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh, những vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước, quyết định tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, thay mặt cho nhân dân quản lý đất nước và quản lý xã hội, giữ quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Việc xây dựng nhà nước do đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ, là quyền lợi của mỗi người dân Việt Nam. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.
Một Nhà nước theo tư tưởng của Bác Hồ kính yêu được xây dựng trên đất nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng một Nhà nước của dân theo Bác Hồ nghĩa là: “Tất cả quyền bính đều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do nhân dân phán quyết”. Dân bầu ra người đại diện cho mình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đổi Chính phủ”.
Trong Nhà nước của dân, dân làm chủ, cán bộ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân. Trái với các chế độ trước đây, quan lại là “phụ, mẫu” của dân, có mọi quyền hành bắt dân phải tuân theo.
Xây dựng một nhà nước do dân theo Bác, nhà nước đó do nhân dân xây dựng nên. Nhân dân bầu ra Nghị viện nhân dân (Quốc hội) - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất quyết định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước do dân bãi miễn nếu không đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nhà nước do dân được tổ chức theo phương thức đại diện, đại biểu nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra và có thể bãi miễn nếu người được bầu không còn xứng đáng.
Nhà nước do dân còn được tổ chức theo phương thức, nhân dân có quyền tham gia ý kiến, tham gia quản lý Nhà nước và quản lý xã hội.
Xây dựng một nhà nước vì dân là một nhà nước không đặc quyền, đặc lợi, nhà nước phục vụ nhân dân, tận tụy và bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ quốc, của xã hội, của chế độ và của nhân dân, một nhà nước trong sạch, chí công vô tư. Bác đã dạy rằng: Phải xây dựng một nền chính trị liêm khiết, kiên quyết đấu tranh với 3 thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu.
Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân là một quá trình gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật và tăng cường pháp chế, gắn liền với quá trình nâng cao dân trí và dân chủ, gắn liền với việc xây dựng đội ngũ công chức và bộ máy nhà nước, cho nên không phải xây dựng nhà nước là có ngay một nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.
Một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thật sự là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính dân tộc và hiện đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Một nhà nước pháp quyền và đạo đức: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân/Bao nhiêu quyền hạn đều của dân/Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân/Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/Chính quyền từ xã, đến Chính phủ, Trung ương do dân cử ra/Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên/Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” .
Hướng tới nhân dân là định hướng hành động suốt cuộc đời Bác. Xây dựng một Nhà nước vì nhân dân phục vụ là một trong những tư tưởng chính trị đạo đức lớn của Người.

Address

Buon Ma Thuot
840500

Telephone

+84855622623

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công nghệ thông tin posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Công nghệ thông tin:

Share