Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh

  • Home
  • Vietnam
  • Ha Long
  • Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh

Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh TT hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Quảng Ninh. Với đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao,có kinh nghiệm, yêu trẻ,nhiệt tình

Thông báo:Chương trình đánh giá; chia sẻ cách chơi và tương tác với con tại nhà ( ngôn ngữ và các hoạt động hàng ngàu). ...
12/07/2019

Thông báo:
Chương trình đánh giá; chia sẻ cách chơi và tương tác với con tại nhà ( ngôn ngữ và các hoạt động hàng ngàu). Nội dung buổi chia sẻ rất hữu ích cho phụ huynh có con rối loạn phát triển, tự kỷ,chậm ngôn ngữ...

Thực hiện mong muốn của phụ huynh có con rối loạn phát triển, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Quảng Ninh tổ chức buổi đánh giá, hướng dẫn chăm sóc, giáo dục cho phụ huynh trẻ có nhu cầu đặc biệt.
Thời gian : Sáng từ 8g00 – 11g 30 – Chiều từ : 13 g30 đến 17g00. Thứ bảy ngày 13/7/2019
Địa điểm : Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Quảng Ninh. Khu Hòa Lạc- phường Cẩm Bình- Cẩm Phả - Quảng Ninh ( Tầng 3 tòa nhà trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Quảng Ninh)
Đối tượng : Giáo viên, phụ huynh, đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt
Nội dung chính : 1, Đánh giá bằng bảng kiểm phát triển
2, Chia sẻ cách chơi và tương tác với trẻ có nhu cầu đặc biệt tại gia đình.
Phụ huynh đăng ký trực tiếp qua sđt: 0945891068

22/05/2019

Nhận biết, phân biệt học sinh khuyết tật học tập và khuyết tật trí tuệ
24/06/2016 23:19
ThS. Nguyễn Văn Hưng
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Tóm tắt: Khuyết tật trí tuệ và khuyết tật học tập là hai dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các trẻ khuyết tật cùng độ tuổi và có những đặc đặc điểm về nhận thức; ngôn ngữ, giao tiếp; cảm xúc, xã hội và hành vi thích ứng rất khác nhau. Nội dung bài viết đề cập đến các nội dung cơ bản sau: (i) Khái niệm khuyết tật trí tuệ và khuyết tật học tập, (ii) Các tiêu chí để xác định khuyết tật trí tuệ và khuyết tật học tập và (iii) một số đặc điểm cơ bản của học sinh khuyết tật trí tuệ và học sinh khuyết tật học tập.

Summary: Intellectual disabilities and learning disabilities are two types of disability accounted for a high proportion of the children with disabilities of the same age; two groups of children have the characteristic features of cognition; language, communication; emotional, social and adaptive behavior are very different. The article mentions to some contents as following: (i) Concept of intellectual disability and learning disability, (ii) Criteria for determining intellectual disabilities and learning disabilities, and (iii ) Some basic characteristics of students with intellectual disabilities and students with learning disabilities.

1. Đặt vấn đề

Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định các dạng tật hiện nay ở Việt Nam bao gồm 6 dạng, đó là: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ và các khuyết tật khác. Mỗi một dạng khuyết tật đều có các tiêu chí nhận dạng và đặc điểm nhận biết khác nhau. Trong thực tế, có nhiều dạng khuyết tật mà ngày nay xuất hiện với cường độ ngày càng tăng, có thể kể đến là các trẻ mắc hội chứng Tự kỉ, các học sinh khuyết tật học tập…đây có thể coi là các dạng khuyết tật mới ở Việt Nam. Thực tế, quan niệm về các thuật ngữ khuyết tật trí tuệ, khuyết tật học tập vẫn còn nhiều tranh luận. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục còn nhầm lẫn các học sinh này với nhau. Thực chất hai nhóm đối tượng này có những sự khác nhau cơ bản. Bài viết này chúng tôi xin giới thiệu khái niệm, tiêu chí chấn đoán và một số đặc điểm đặc trưng của học sinh khuyết tật trí tuệ và học sinh khuyết tật học tập.

2. Khái niệm và tiêu chí chẩn đoán

2.1. Khuyết tật trí tuệ

Theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê những rối nhiễu tâm thần V (DSM-V, 2013) của Hiệp hội rối nhiễu tâm thần Mỹ đã đưa ra định nghĩa và các tiêu chí chẩn đoán về khuyết tật trí tuệ (KTTT) như sau:

Khuyết tật trí tuệ (Intellectual Disabilities) là một rối loạn diễn ra trong suốt quá trình phát triển, bao gồm sự thiếu hụt cả về trí tuệ và chức năng thích ứng về khái niệm, xã hội và các lĩnh vực thực hành. Bắt buộc phải có 3 tiêu chuẩn sau:

A. Bị thiếu hụt các chức năng trí tuệ như lí luận, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, tư duy trừu tượng, phán xét, kỹ năng học tập, học hỏi từ trải nghiệm. Các thiếu hụt này được kiểm chứng thông qua các đánh giá lâm sàng và cá nhân, kiểm tra trí thông minh đã được tiêu chuẩn hóa.

B. Bị thiếu hụt trong chức năng thích ứng dẫn đến thất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển văn hóa xã hội, độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội. Không có sự hỗ trợ, những thiếu hụt trong chức năng thích ứng này sẽ dẫn đến những hạn chế một hoặc nhiều hoạt động trong học tập hàng ngày như thông tin liên lạc, tham gia xã hội, sống độc lập; và trong nhiều môi trường như gia đình, trường học, nơi làm việc và cộng đồng,

C. Những thiếu hụt về trí tuệ và chức năng diễn ra trong suốt quá trình phát triển.
DSM-V cũng phân loại 4 mức độ KTTT dựa trên những khó khăn trong học tập, chỉ số thông minh, các kĩ năng xã hội, kĩ năng sống và các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày của trẻ, bao gồm 4 mức độ KTTT sau: mức độ nhẹ, mức độ trung bình, mức độ nặng và mức độ nghiệm trọng.

2.2. Khuyết tật học tập

Khuyết tật học tập (Learning Disabilities) (KTHT) là thuật ngữ chung để chỉ một nhóm phức hợp những rối loạn biểu hiện ở những khó khăn đáng chú ý trong việc lĩnh hội và vận dụng những năng lực nghe, nói, đọc, viết, suy luận và tính toán. Rối loạn này là khuyết tật nội tại của cá nhân, có nguyên nhân được cho là do khuyết tật chức năng hệ thần kinh trung ương, có thể xuất hiện theo các hoạt động sống. Những vấn đề về hành vi, nhận thức xã hội, tương tác xã hội có thể tồn tại đồng thời cùng KTHT những tự thân những vấn đề này không phải là bản chất của KTHT [6].

Theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các rối nhiễu tâm thần DSM-V, KTHT có 4 đặc trưng sau:

A. Khó khăn trong việc học và vận dụng các kĩ năng học đường (ít nhất 1 trong số những biểu hiện: đọc từ thiếu chính xác hoặc chậm và ngắc ngứ; kém hiểu nghĩa bài đọc; đánh vần khó khăn; diễn đạt bằng chữ viết khó khăn; khó thành thục cảm giác số, phép tính hoặc tính toán; khó khăn trong suy luận toán học) trong thời gian ít nhất 6 tháng bất kể đã được cung cấp các dịch vụ can thiệp nhằm giải quyết các khó khăn đó.

B. Kĩ năng học đường bị tác động thấp hơn cả về chất và lượng so với mức độ phát triển độ tuổi cá nhân và dẫn tới những ảnh hưởng rõ rệt thể hiện trong học tập hoặc hoạt động nghề nghiệp, hoạt động hàng ngày đã được dự báo bởi các đánh giá tiêu chuẩn về học lực cơ bản của cá nhân và đánh giá lâm sàng tổng quát. Đối với cá nhân từ 17 tuổi trở lên, đánh giá tiêu chuẩn phải được thay thế bởi hồ sơ tiểu sử những khó khăn về học.

C. Khó khăn trong học tập bắt đầu thể hiện trong suốt tuổi đến trường những cũng có thể chưa thể hiện đầy đủ cho tới khi những yêu cầu về kĩ năng đó vượi quá khả năng của cá nhân trẻ.

D. Những khó khăn về học không phải do khuyết tật trí tuệ, độ nhạy bén không hoàn chỉnh của thị giác, thính giác, rối loạn tâm thần hoặc thần kinh khác, rối loạn tâm lí xã hội, thiếu hụt năng lực trong ngôn ngữ hướng dẫn học đường hoặc phương pháp giáo dục bất phù hợp.

Theo DSM-V, có 3 dạng KTHT, đó là: Khó đọc, khó viết và khó tính toán:

- Khó đọc là một trong những dạng KTHT phổ biến nhất. Học sinh khó đọc được đặc trưng bởi những khó khăn trong việc diễn đạt hoặc tiếp nhận ngôn ngữ nói hoặc viết mặc dù trí thông minh và khả năng trí tuệ của học sinh ở mức trên trung bình. Học sinh khó đọc chỉ được nhận diện khi những khó khăn trong hoạt động đọc, viết không thể giải thích được bằng các nguyên nhân như: khả năng trí tuệ kém, hoạt động giảng dạy không hiệu quả hoặc khiếm khuyết giác quan như khiếm thính, khiếm thị..... Khó đọc ảnh hưởng trước hết đến khả năng đọc, viết và nhiều lĩnh vực hoạt động khác của học sinh.

- Khó viết là dạng KTHT liên quan đến cách thể hiện những suy nghĩ bằng chữ viết và biểu tượng. Những học sinh này thường bị rối loạn về biểu tượng hình ảnh vì thế không viết được chữ hoặc chữ viết méo mó không đúng kích cỡ. Học sinh nói được nhưng không viết được; chữ viết xấu, rất khó đọc; viết được nhưng kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc độ, cách trình bày, số lỗi chính tả, lỗi sử dụng các dấu chấm câu và sử dụng không đúng các quy tắc ngữ pháp.

- Khó tính toán là một dạng KTHT liên quan đến việc học hoặc thông hiểu toán học. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ những học sinh gặp khó khăn về vấn đề ước lượng không gian, thời gian, đo lường và thực hiện các phép tính số học, khó khăn trong việc lĩnh hội khái niệm trừu tượng về so sánh các số lượng.
Thông tin tổng hợp về các tiêu chí trên của DSM-V sữ được sử dụng để xác định những học sinh bị KTTT và KTHT. Trên thực tế, các công cụ để xác định 2 dạng khuyết tật này còn rất thiếu vắng và chưa thống nhất về phương pháp chẩn đoán. Ở Việt Nam, để xác định chỉ số thông minh (IQ) thường sử dụng bộ trắc nghiệm Raven, còn Test WISC-IV phiên bản tiếng Việt chuẩn hóa hoàn thiện đang được đưa vào sử dụng như một tiêu chuẩn vàng để các định và hỗ trợ các học sinh KTHT. Hầu hết các học sinh KTHT có biểu hiện hoàn toàn bình thường về mặt trí tuệ (chỉ số thông minh) và có thể học tập được nhưng thực tế kết quả học tập trong nhà trường thua kém rất nhiều so với các bạn cùng lơp. Trong khi, hạn chế về chỉ số thông minh (IQ) lại là tiêu chí đầu tiên để xác định các trẻ KTTT.

3. Một số đặc điểm tâm lí cơ bản

3.1. Học sinh khuyết tật trí tuệ

- Đặc điểm về vận động:

Kĩ năng vận động thô: Trẻ KTTT chậm đạt được các mốc phát triển như chậm biết bò, ngồi, đứng, đi...Thiếu sự kiểm soát cơ thể và thiếu sự phối hợp các vận động một cách nhịp nhàng trong các hoạt động như nhảy, đá, ném, nâng vật. Một vài trẻ KTTT có khó khăn khi di chuyển cả hai tay cùng một lúc (di chuyển song phương), khó khăn trong các hoạt động cầm vật bằng hai tay và nâng vật lên hoặc ném đi, một số trẻ còn có vấn đề về thăng bằng.
Kĩ năng vận động tinh: Nhiều trẻ bị KTTT trong năm đầu và năm thứ hai không biết cầm, nắm đồ vật. Trẻ có thể khó cầm một vật bằng ngón trỏ và ngón cái. Về cử động môi và lưỡi, đây là kĩ năng vận động tinh rất cần thiết để nói năng rõ ràng, nhưng trẻ KTTT lại gặp nhiều khó khăn trong cử động môi và lưỡi dẫn đến chậm biết nói, hoặc là nói ngọng

- Đặc điểm về hoạt động nhận thức:

Về tri giác: Thời gian tri giác của học sinh KTTT chậm chạp, chậm hơn các học sinh khác. Cùng trong một lượng thời gian nhất định nhưng khối lượng thông tin học sinh KTTT thu nhận được thường chỉ bằng 40% so với học sinh bình thương. Trong đó, tri giác thị giác của học sinh KTTT cũng rất hạn chế: khả năng phân biệt và bắt chước các hình dạng thông qua thị giác gặp khó khăn, thiếu tính tích cực trong quá trình tri giác (thường có biểu hiện không muốn xem xét kĩ càng các chi tiết, do thần kinh bị yếu nên quá trình tri giác cũng dễ mệt mỏi, khó duy trì được trong một thời gian dài).

Về tư duy: Tư duy của học sinh KTTT thường mang tính cụ thể, trực quan, yếu về khái quát hóa bản chất của sự vật hay hiện tượng: trẻ thường đưa ra những nhận xét không đúng về bản chất của đối tượng, khả năng phân biệt kém (nhất là với các đối tượng có những đặc điểm gần giống nhau về màu sắc, hình dạng và kích cỡ), khó phân biệt và nhận biết các loại âm thanh khác nhau- đây chính là nguyên nhân gây ra sự kém phát triển về ngôn ngữ và tư duy cũng như định hướng trong môi trường sing quanh sau này của trẻ, thiếu tính liên tục và khó duy trì (ban đầu thường làm đúng, nhưng càng về sau thì càng sai sót nhiều, hoặc đưa ra những câu trả lời thiếu suy nghĩ).

Về trí nhớ: Học sinh KTTT chậm nhớ, mau quên ( trẻ thường ghi nhớ máy móc tốt hơn là ghi nhớ có ý nghĩa, dễ nhậm lẫn giữa các đối tượng do chỉ nhìn thầy những đặc điểm chung nhất và bề ngoài), khả năng ghi nhớ dài hạn bị hạn chế, ghi nhớ trực tiếp tốt hơn là ghi nhớ gián tiếp, gặp khó khăn về trí nhớ ngôn ngữ ( các em chỉ có thể ghi nhớ được 4 đến 5 từ mà giáo viên đọc cho nghe trong 6 lần với tốc độ đọc là 1 từ/giây).

- Đặc điểm về ngôn ngữ, giao tiếp:

Vốn từ của học sinh KTTT nghèo nàn (ít dùng những câu phức tạp, câu có liên từ, khó khăn trong diễn đạt), khó hiểu các từ có tính trừu tượng hoặc mang nghĩa bóng. Trong quá trình giao tiếp, các em rất khó đáp ựng được những yêu cầu của người khác, đặc biệt là những yêu cầu nhiều nhiệm vụ cùng một lúc. Ngôn ngữ diễn đạt của học sinh KTTT rất hạn chế (ngôn ngữ mang tính rập khuôn, máy móc, nói ngọng, nói lắp, nói khó), thường sử dụng câu đơn, không nắm được quy tắc ngữ pháp, trẻ có thế nói được nhưng không hiểu nói cái gì. Ở một số em, có hiện tượng, chỉ nghe được một số từ người khác nói, còn một số từ nghe lơ mơ, có khi không nghe được gì. Gọi là hiện tượng nghe "Câu được câu chăng". Các em này thường gặp rất nhiều khó khăn khi viết chính tả, nghe chuyện và kể lại. Do vậy, học sinh KTTT hay tỏ ra lúng túng, mất tự tin với người đối diện, lảng tránh mọi người, khó tham gia các hoạt động nhóm.

- Đặc điểm về tình cảm, xã hội:

Về cơ bản, học sinh KTTT cũng có quá trình phát triển tình cảm-xã hội giống như mọi học sinh bình thường khác, chỉ khác biệt ở chỗ là các giai đoạn phát triển khác nhau sẽ kéo dài hơn và quá trình phát triển sẽ chấm dứt sớm hơn. Học sinh KTTT cũng có một số đặc trưng riêng về mặt tình cảm, xã hội như: có nhiều loại loại phản ứng mang tính xúc cảm khác nhau (tự vệ-công kích, tự vệ-thụ động một cách trẻ con), trẻ thường thờ ơ và gần như vô cảm với nhăng sự vật hiện tượng xung quanh, không thích chơi những trò chơi tập thể, trò chơi sắm vai, mô phỏng, ít quan tâm đến bạn bè cùng lứa tuổi, ít chủ động chơi cạnh bạn, khó khăn trong việc hợp tác với bố mẹ, anh chị, cô giáo trong các hoạt động học tập và sinh hoạt hàng ngày.

- Đặc điểm về hành vi:

Học sinh KTTT có các hành vi bất thường, bao gồm các hành vi hướng nội (là hành vi được biểu hiện theo xu hướng vào bên trong, những hành vi này thường không gây phiền nhiễu cho giáo viên và những người xung quang) và các hành vi hướng ngoại (là hành vi được biểu hiện theo xu hướng ra bên ngoài, những hành vi này thường gây rất nhiều phiền nhiễu cho giáo viên và những người xung quanh). Hành vi của học sinh KTTT rất đa dạng và phức tạp và được biểu hiện như là sự thu mình lại; phàn nàn về sức khỏe; lo lắng, âu sầu; các vấn đề xã hội; ý nghĩ; tập trung; hành vi sai trái và các hành vi thái quá (hung tính).

3.2. Học sinh khuyết tật học tập

- Đặc điểm về khả năng ghi nhớ

Học sinh KTHT có biểu hiện rối loạn về trí nhớ (Học sinh thường quên cách đánh vần các từ, cách làm toán và những lời hướng dẫn dặn dò của thầy cô, mặc dù tiết học trước học sinh đã có thể thực hiện thành thạo). Không chủ động sử dụng được những thủ thuật ghi nhớ mà những học sinh bình thường hay sử dụng. Ví dụ, để học thuộc các thông tin của một bài học, những học sinh khác sẽ chủ động đưa ra các thủ thuật giúp mình nhớ tốt hơn như: xếp chúng vào một nhóm, đặt những điểm mốc quan trọng, gắn kết nó với những đặc điểm riêng. Khi học một danh sách các từ, học sinh bình thường hay nhắc lại các từ đó hay nhóm chúng vào trong các nhóm có đặc điểm chung là vật dụng, động vật, thực vật thì học sinh KTHT không làm được như vậy.

Học sinh KTHT gặp khó khăn trong việc ghi nhớ các sự kiện: khó có thể nhớ được đầy đủ các thông tin nếu các thông tin đó được cung cấp chỉ bằng một kênh là ngôn ngữ nói. Việc xử lý âm thanh chậm hơn không cho phép các học sinh KTHT có đủ thời gian để nạp những thông tin đó vào bộ nhớ ngắn hạn. Do đó, hầu hết những gì được trình bày trước người học sẽ bị mất đi, không được lưu giữ trong bộ nhớ ngắn hạn và cũng không được truyền tải tới bộ nhớ dài hạn. Khiếm khuyết liên quan tới các dạng KTHT dường như diễn ra trong bộ nhớ ngôn ngữ và ảnh hưởng tới khả năng giải mã, xếp loại và gợi lại thông tin đã được truyền tải.

- Khả năng tập trung chú ý và hoàn thành nhiệm vụ

Học sinh KTHT thường bị chi phối rất nhiều bởi nhiều tác nhân kích thích nên chỉ có thể tập trung trong thời gian ngắn, lơ đãng hay bị chi phối bởi tất cả những hoạt động ở xung quanh… Nhiều trẻ quá hiếu động, xuất hiện những hành vi vận động không mục đích (sờ ngón tay ngón chân, hỏi liên tiếp cùng một câu hỏi, không thể đứng hoặc ngồi yên). Đây là nguyên nhân chính khiến học sinh thường quên bắt đầu nhiệm vụ, bỏ dở hoặc không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn. Học sinh KTHT thường hay làm nhanh cho xong việc để nói với giáo viên là các em đã làm xong. Các em có thể làm sai tất cả các câu hỏi do làm trước khi đọc hoặc nghe xong hết câu hỏi. Mặt khác, các em thường gây ra mất trật tự (làm ồn, nói tự do, làm phiền các bạn, đánh bạn), hay cáu kỉnh, làm hư hại/mất đồ dùng học tập...mà bản thân trẻ không ý thức được điều đó.

- Đặc điểm về khả năng học tập

Những học sinh KTHT thường không có dấu hiện bị khuyết tật trí tuệ, hầu hết đều có chỉ số thông minh (IQ) ở mức độ trên trung bình nhưng việc lĩnh hội và vận dụng 1 hoặc nhiều hơn 2 trong số các kĩ năng học tập như đọc, đọc hiểu, viết, làm toán, suy luận toán học gặp nhiều khó khăn.

Có sự lệch lạc trong quá trình xử lí thông tin, với trẻ bình thường thì việc tiếp nhận các thông tin như nghe giáo viên giảng bài, nhìn lên bảng, chép bài vào vở và dần dần sữ tiếp thu được các kiến thức mới. Nhưng với trẻ KTHT thì việc tiếp thu được các kiến thức mới gặp rất nhiều khó khăn. Trong thực tế, chúng ta có thể gặp những học sinh KTHT học lớp 5 rồi mà vẫn chưa thể đọc trơn được, có học sinh KTHT học hết lớp 3 nhưng vẫn không thể làm toán được nếu không có que tính, hoặc có học sinh KTHT học hết lớp 1 mà không thể thực hiện các phép tính cộng trừ trong phạm vi 10.

Phần lớn học sinh KTHT thường không có khả năng học các môn học sử dụng nhiều kĩ năng học tập. Học sinh thường rất kém trong việc trả lời vấn đáp, ghi chép, nghe hiểu, đọc lướt, phát hiện và chữa lỗi sai, dẫn đến kết quả học tập thường rất thấp trong các môn đọc, làm văn và làm toán.

- Đặc điểm cảm xúc, xã hội

Học sinh KTHT thường xuất hiện những rối loạn cảm xúc trong phát triển từ cấp độ nhẹ tới nghiêm trọng. Hầu hết học sinh KTHT không đạt được mức độ thích nghi tâm lý ổn định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không có một đặc điểm hay công thức chung nào cho các biểu hiện về tính cách, sự thích nghi về mặt tâm lý, năng lực xã hội, khả năng tự hiểu mình hoặc các chỉ số thể hiện chức năng tâm lý xã hội khác ở học sinh KTHT.

Khoảng 70% học sinh KTHT tự đánh giá mình thấp trong nhận thức học tập.. Các giáo viên đều cho rằng những khó khăn trong học tập của các học sinh KTHT không phải do thiếu nỗ lực hay trí tuệ mà là do học sinh KTHT bị suy giảm, hoặc có những khiếm khuyết mang tính xã hội.

Một số học sinh KTHT khi gặp thất bại trong việc học tập lại xuất hiện hành vi gây gổ và mang tâm lý tự ti. Thay vì cố gắng học và hoàn thành những bài tập cần làm, những học sinh này lại thường cố làm những gì mà mình không thể làm nổi. Việc không xác định khả năng của bản thân thường khiến cho học sinh cảm thấy bi quan hơn, mất niềm tin vào chính mình và đánh mất luôn cả lòng tự trọng. Trên thực tế, nhiều học sinh KTHT có kết quả học tập kém nhưng lại không thua kém bạn bè cùng trang lứa trong các lĩnh vực khác như trong các mối quan hệ trong gia đình, thể chất và xã hội.

4. Kết luận

Tại Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục cho học sinh KTTT đã được quan tâm từ nhiều năm, với những tên gọi khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử, như là: thiểu năng trí tuệ, chậm phát triển trí tuệ và ngày nay là KTTT. Còn lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục cho học sinh KTHT thì mới được chú ý khoảng từ năm 2005 trở lại đây, nhưng đây lại là lĩnh vực mà đông đảo các nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt đang tập trung nghiên cứu. Tính đến năm 2014, đã có 3 hội thảo quốc tế được tổ chức tại Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh về chủ đề giáo dục học sinh KTHT. Trong bối cảnh mà KTHT vẫn còn nhiều tranh luận và đánh đồng với một số dạng khuyết tật khác, nên chắt lọc những nghiên cứu quan trọng để xác định rõ ràng khái niệm về KTHT và chuẩn hóa các bộ công cụ để chẩn đoán học sinh KTHT tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thị Kim Hoa, Lê Thị Tâm (2013), Kỹ năng dạy học hòa nhập và hỗ trọ học sinh khó khăn về đọc, viết, tính toán. Chương trình Phát triển Trung học, Bộ GD&ĐT
2. Nguyễn Cẩm Hường (2014), Tiếp cận vấn đề khuyết tật học tập và đề xuất nghiên cứu xác định, hỗ trợ học sinh khuyết tật học tập ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về giáo dục trẻ khuyết tật học tập và trẻ khuyết tật trí tuệ.
3. Phạm Minh Mục (2012), Cẩm nang hoàn chỉnh về khuyết tật học tập. NXB Giáo dục Việt Nam
4. Trần Thị Lệ Thu (2003), Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. American Association on Mental Retardation, (2002), Washington DC
6. Diagnostic and Statistical manuel of mental disorders-V (2013), American Psychiatric Publishing

Thông báo về việc chuyển địa điểm cơ sở 2. Để thuận lợi về mặt giao thông trung tâm xin chuyển về vị trí mới. Trung tâm ...
01/05/2019

Thông báo về việc chuyển địa điểm cơ sở 2.
Để thuận lợi về mặt giao thông trung tâm xin chuyển về vị trí mới. Trung tâm được đặt tại tầng 3 tòa nhà trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Quảng Ninh. Ngay trục đường chính, Gần điện máy Trần Anh. Một tòa nhà tương đối hiện đại với Cầu thang máy, hệ thống bảo vệ tự động. Đến nay cơ sở vật chất đã hoàn thiện 100% , phòng ốc được trang bị điều hòa 2 chiều, ánh sáng, không gian thoải mái và an toàn, rất phù hợp với trẻ có nhu cầu đặc biệt.
Đội ngũ giáo viên, chuyên viên có kinh nghiệm lâu năm trong ngành giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, công tác xã hội, tâm lý...
Rất mong sự quan tâm của các bậc phụ huynh.

THÔNG BÁO TUYỂN SINH LỚP TIỀN TIỂU HỌC NĂM HỌC 2019-2020.Để chuẩn bị tâm lý và các kỹ năng cần thiết cho trẻ trước khi v...
01/05/2019

THÔNG BÁO TUYỂN SINH LỚP TIỀN TIỂU HỌC NĂM HỌC 2019-2020.

Để chuẩn bị tâm lý và các kỹ năng cần thiết cho trẻ trước khi vào lớp một. Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh thông báo tuyển sinh lớp Tiền tiểu học.

A) Nội dung chương trình học như sau:

Rèn nếp:
Rèn nếp ngồi trong lớp đông và ngồi được trong thời gian 45 phút.
Nhận dạng được sách vở và đồ dùng học tập của mình
Nghe, hiểu yêu cầu của giáo viên
Biết xin phép khi cần ra ngoài và khi vào lớp
Rèn nếp ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân
Kỹ năng trong và ngoài giờ học.
Biết xếp hàng đúng vị trí, đứng lên/ ngồi xuống khi có hiệu lệnh.
Biết Giơ tay giờ điểm danh
Biết lấy đúng sách, lên bảng khi được yêu cầu
Biết xếp sách theo thời khóa biểu
Kỹ năng chơi & tương tác
Giáo viên tổ chức cho các bạn chơi trò chơi tay không: cá sấu lên bờ, vòng quanh socola,…Biết rủ bạn cùng chơi trò chơi.
Biết nhờ bạn đưa đi vệ sinh, đi dạo quanh sân trường.
Biết mượn đồ khi thiếu
Biết nhờ bạn lấy đồ, nhặt đồ.
Kỹ năng phòng vệ bản thân
Không ra khỏi trường với người lạ
Khi bị bắt nạt biết nói với người lớn
Biết bảo vệ bản thân (chống xâm hại)
Không đánh bạn
Chuẩn bị kiến thức cơ bản về toán, tiếng việt:

1. Môn Toán:

Nhận biết được số thứ tự; đọc, đếm viết, so sánh các số trong phạm vi từ 0-20.
Thực hiện được các phép toán cộng, trừ
Đọc, hiểu và giải được các bài toán có lời văn ngắn.
Nhận biết được về đại lượng và đo đại lượng như cao – thấp, dài-ngắn, nhiều – ít, to – nhỏ, lớn-bé-bằng nhau…

2. Môn tiếng việt

Nghe, hiểu, đọc các động từ, danh từ, tính từ, từ đơn – từ đôi cơ bản.
Chỉ, lấy, ghép, nối, khoanh đúng các từ được yêu cầu
Đọc các câu có nghĩa đã ghép
Viết được các nét cơ bản, chữ cái đúng chính tả
B) Thời gian học

Học nửa ngày(2.5 h) bao gồm các tiết học :
60 phút can thiệp cá nhân (1:1)
60 phút can thiệp theo nhóm TTH (1 nhóm 4- 6 bạn)
30 phút rèn luyện các kỹ năng

Học 90 phút bao gồm các tiết học:
60 phút can thiệp theo nhóm TTH (1 nhóm 4- 6 bạn)
30 phút rèn luyện các kỹ năng
GHI CHÚ:
Học buổi chiều các ngày trong tuần từ thứ 2 đến thứ 7(
Số lượng học sinh trong lớp: 4-6 trẻ/lớp
Địa điểm:
Cơ sở 1: trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh. Số 6- tổ 7 khu 2 phường Hồng Hải, Hạ Long, Quảng Ninh.

Nội dung chương trình xin liên hệ với người phụ trách chuyên môn của Trung tâm theo số điện thoại: 0945891068 ( Mrs Lan).
Email: [email protected]
Wedsite: trekhuyettat.org

23/04/2019
23/04/2019

Dấu hiệu nhận biết trẻ khiếm thính Trẻ không giật mình khi nghe âm thanh lớn, sau 6 tháng tuổi trẻ không có biểu hiện hướng về nơi phát ra âm thanh......

18/04/2019
17/04/2019
14/04/2019

Address

Đường Nguyễn Văn Cừ
Ha Long

Opening Hours

Monday 07:00 - 20:00
Tuesday 07:00 - 20:00
Wednesday 07:00 - 20:00
Thursday 07:00 - 20:00
Friday 07:00 - 20:00
Saturday 07:00 - 20:00

Telephone

0945891068

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Quảng Ninh:

Share