07/10/2026
💙 70 NĂM KHOA LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA | “MỘT ĐỊA CHỈ - CUỘC ĐỜI”: NHÌN LẠI NHỮNG NĂM THÁNG GIAN KHÓ MÀ NGHĨA TÌNH CỦA KHOA SỬ
🔹 70 năm truyền thống Khoa Lịch sử và Văn hóa được làm nên không chỉ từ những dấu mốc, thành tựu, mà còn từ những năm tháng gian khó - đặc biệt là thời kỳ bao cấp, khi Khoa và các thế hệ cán bộ, giảng viên phải đối mặt với không ít thiếu thốn, nhưng vẫn bền bỉ giữ gìn việc dạy học, nghiên cứu và xây dựng Khoa.
🌿 “MỘT ĐỊA CHỈ - CUỘC ĐỜI” của PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng (nguyên giảng viên Bộ môn Lịch sử thế giới; Quyền Chủ nhiệm Khoa Lịch sử 1983-1984) đưa người đọc trở lại với một thời Khoa Sử trong những năm bao cấp. Qua những không gian, con người và câu chuyện được ghi lại, một diện mạo Khoa Sử hiện lên chân thực: còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng ấm áp tình đồng nghiệp, giàu tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó với nghề.
📖 Chính từ những chi tiết tưởng như bình dị ấy, câu chuyện của một thời Khoa Sử dần hiện lên - một tập thể đã cùng chia sẻ những khó khăn, cùng giữ gìn công việc và cùng vun đắp những giá trị đặt nền móng cho hành trình phát triển của Khoa về sau.
💙 Nhân dịp kỷ niệm 70 năm truyền thống Khoa Lịch sử và Văn hóa (1956-2026), Khoa trân trọng giới thiệu bài hồi ức “MỘT ĐỊA CHỈ - CUỘC ĐỜI” của PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng - một lát cắt giàu giá trị về Khoa Sử trong thời kỳ bao cấp, để hôm nay cùng nhìn lại một chặng đường và thêm trân trọng những giá trị được các thế hệ gìn giữ qua thời gian.
━━━━━━━━━━━━━━
📜 MỘT ĐỊA CHỈ - CUỘC ĐỜI
Tác giả: PGS.NGND. Nguyễn Quốc Hùng.
1. Tôi không được là một trong những thành viên đầu tiên của Khoa Sử khi thành lập vào năm 1956, và phải 10 năm sau - năm 1966 - tôi mới được giữ lại ở Bộ môn Lịch sử thế giới, tuy vậy từ đó đến nay cũng đã ngót nghét gần một nửa thế kỷ tôi đã gắn bó và chia sẻ với những bước "thăng" và "trầm" của Khoa Sử. Bài viết này như một hồi ức - tâm sự cuộc đời khi tôi đã nghỉ hưu vừa tròn 10 năm và nay tuổi đã 75.
Ngày nay nhìn lại việc Học Sử và Dạy Sử của tôi vừa có được sự chọn lựa của cá nhân, lại vừa theo sự phân công của "tổ chức" như điều thường thấy ở thời kỳ bao cấp trước đây, khi Nhà nước nuôi cho sinh viên ăn học ở bậc đại học (xin nói rõ thêm đối với các bạn trẻ ngày nay - sinh viên thi đỗ vào đại học đều được học bổng 18 đồng/tháng - trong đó 15 đồng nộp tiền ăn, 3 đồng tiêu vặt; còn cán bộ, bộ đội được cử đi học thì vẫn được giữ nguyên lương hoăc phụ cấp; đương nhiên tất cả đều không phải nộp học phí. Đó thực sự là một ưu việt, nhờ đó nhiều người mới có cơ hội được học đại học, nhất là con em các gia đình nghèo hoặc nhiều khó khăn). Đối với tôi việc theo học ngành Sử hình như có một sự "tiền định". Nhớ lại, năm 1954 khi học năm thứ hai - năm cuối (theo hệ 9 năm lúc đó) của Trường Sư phạm Trung cấp Xã hội ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), hai lớp năm cuối lại được phân thành hai ban: Văn - Chính trị và Sử - Địa. Tôi cùng Nguyễn Thế Đức (sau này là Giám đốc Thư viện Quốc gia)… đăng ký theo học ban Sử - Địa; còn Nguyễn Phước Tương (Tương Lai), Nguyễn Kháng (Ma Văn Kháng), Hoàng Tiến… học Văn - Chính trị. Sau hơn 5 năm dạy cấp II ở Ninh Bình và Sơn Tây, năm 1961 tôi được đi học ở Liên Xô. Cuối cùng, sau khi tới Maxcơva, theo danh sách phân phối của Đại sứ quán ta, tôi được phân công theo học ở Khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm Lênin ở Maxcơva (MGPI). Thế là từ đó, tôi mới thực sự chính thức gắn bó với khoa học lịch sử, như một Nghề và Nghiệp của đời mình.
Hè năm 1964 khi học hết năm thứ 3, tôi cũng như tất cả các sinh viên theo học các ngành khoa học xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu được lệnh về nước học tiếp hoặc nhận công tác tùy ý. Nghĩ mình đã học hết 4 năm (1 năm học tiếng Nga, 3 năm đại học), chả lẽ lại không có được tấm bằng đại học, nên tôi quyết định phải học tiếp và có lẽ là người "cầm đầu" số sinh viên Sư phạm Lênin xin về Đại học Tổng hợp Hà Nội như Trần Mạnh Cừ, Đặng Trần Cần về khoa Văn, tôi và Nguyễn Đình Nhơn - khoa Sử học tiếp các năm thứ 3 và 4. Như một sự kiện quan trọng đánh dấu đối với của Bộ môn Lịch sử thế giới là khi chúng tôi học năm thứ 4, Khoa và Bộ môn quyết định mở chuyên ban Lịch sử thế giới. Đó là chuyên ban đầu tiên của Bộ môn Lịch sử thế giới với ba thành viên là Nghiêm Dục Tú, Nguyễn Quốc Hùng (từ Liên Xô) và Ngô Thiếu Hiệu (CHDC Đức).
Có lẽ khi đó, một mặt là do sự trưởng thành của Bộ môn, mặt khác Bộ môn muốn khai thác vốn ngoại ngữ của chúng tôi, nhất là làm Luận văn tốt nghiệp (sau này gọi là Khóa luận tốt nghiệp) vào cuối khóa. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ lại ở Khoa và thuộc Bộ môn Lịch sử thế giới từ cuối năm 1966.
2. Về bộ môn, tôi được phân công giảng dạy về phần chủ nghĩa đế quốc trong chương trình cơ sở và sau này là chuyên đề trong chương trình chuyên ban (tôi nhớ cũng phải tới năm 1970 mới mở lớp chuyên ban thứ hai). Do đã đi dạy trước đây, tôi hiểu rõ giữa học và lên lớp dạy là rất chênh nhau, và để giảng về chủ nghĩa đế quốc phải có những kiến thức, hiểu biết nhất định về kinh tế, tài chính - tiền tệ, nhất là khi tôi vừa ở lại bộ môn chưa bao lâu thì xảy ra sự kiện đồng bảng Anh phá giá (11-1967) gây nên cơn bão tiền tệ trong thế giới tư bản với sự khủng hoảng của đồng đôla Mỹ. Phải hiểu được sự kiện này và không có cách nào khác là phải đọc, tự học và tầm sư học đạo. Thật ra việc tự học vươn lên là điều thường thấy gần như buộc phải có ở bộ môn Sử thế giới, vì tôi được nghe nói trước đây khi phân chia hai thành khoa Sử thì lực lượng Sử thế giới về Đại học Sư phạm và Sử Việt Nam là Đại học Tổng hợp, vì vậy các cán bộ của bộ môn đều rất trẻ mới ra trường và lại không có được những "đầu đàn" như các bộ môn khác trong Khoa. Hơn thế nữa, trong nhiều năm dài, hầu như không có ai trong bộ môn đươc đi học nghiên cứu sinh ở nước ngoài như bên khảo cổ học và dân tộc học (thực ra có các anh Hoàng Điệp, Nguyễn Văn Hồng được đi thực tập ở Trung Quốc, và năm 1971, Khoa đã cử anh Hồ Gia Hường và tôi đi làm NCS ở CHDC Đức và Liên Xô. Sau một tuần "bò" ra để viết tay kê khai tới 7 bản lý lịch dày tới khoảng 20 trang, rồi nộp lên nhà trường, nhưng cuối cùng rơi vào im lặng hoàn toàn. Sau này, tôi có hỏi một anh bạn ở Vụ tổ chức của Bộ thì được biết hy vọng chỉ là 1/1000, bởi vẫn chỉ chuyện "quan điểm" của thời đó. Nghĩ mà tiếc cái công sức! Lúc đó, các bộ môn dân tộc học và khảo cổ học không vướng mắc chuyện đó thì thuận lợi hơn, các anh Nguyễn Quốc Lộc, Hoàng Văn Khoán cùng đợt với anh Hường và tôi đã lên đường, sau này còn có Hoàng Nam và Hán Văn Khẩn).
Trở lại chuyện tầm sư học đạo về kinh tế - tài chính của chủ nghĩa đế quốc. Nhân có việc về Hà Nội, qua bạn bè giới thiệu, tôi đã nhờ anh Cao Lộc - một nhà báo chuyên về tiền tệ quốc tế ở Việt Nam Thông tấn xã - giảng cho tôi hai buổi (lúc đó việc giúp nhau hoàn toàn vô tư, không hề có chuyện "phong bì", nếu có chỉ là mời nhau ly cà phê). Sau này tôi còn tranh thủ đi nghe các buổi thuyết trình của anh Phan Văn Tiệm ở Ủy ban vật giá nhà nước. Đồng thời, tôi thường xuyên theo dõi các loạt bài về kinh tế - tài chính chủ nghĩa tư bản của nhà báo nổi tiếng lúc bấy giờ Nguyễn Hữu Chỉnh trên báo Nhân Dân…
Chỉ ở Khoa một thời gian không lâu, tôi đã cảm nhận thấy đây là một tập thể dồn sức chủ yếu cho giảng dạy, đặc biệt là nghiên cứu khoa học, mặc dầu còn có lúc có "chuyện này chuyện kia" trong một vài quan hệ… Tôi còn nhớ trong những năm tháng đi sơ tán, mặc dầu trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, nhiều buổi tối dưới ánh sáng yếu ớt của những ngọn đèn dầu, Khoa đã tổ chức nhiều cuộc sinh hoạt khoa học, trong đó có đề tài về truyền thống xoay quanh hai vấn đề: (1) Đã là truyền thống thì chỉ có truyền thống tốt đẹp, không thể có truyền thống xấu; (2) Có truyền thống tốt đẹp và có cả truyền thống xấu dở. Tranh luận sôi nổi, ý kiến phân đôi, "bất phân thắng bại", và lúc đó vào khoảng năm 1967 hoặc 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt. Có lẽ từ những buổi sinh hoạt khoa học đó, sau này GS Hà Văn Tấn đã viết bài báo nổi tiếng Truyền thống và sự đứt gãy của truyền thống, bởi sau đó tôi đến chơi với Anh ở 20 Phan Huy Chú, Anh kể: tớ mờ mắt tìm cái source câu nói của Marx trích dẫn trong bài. Vì ý kiến khác thường, nên toà soạn tạp chí bắt tớ phải tìm bằng được câu viết đó ở sách nào của Marx, nếu không có bài sẽ không được đăng. May quá, tớ đã nhớ và tìm thấy nó trên nóc cái giá sách kia kìa…
Lúc đó, trong số cán bộ trẻ chúng tôi ở bộ môn Sử thế giới thường day dứt câu hỏi là làm thế nào "thoát khỏi ẩn số" nghĩa là có tên trên các bài đăng ở các tạp chí và báo, thời bấy giờ còn khá ít ỏi, nhất là để in được các bài về sử thế giới. Anh Vũ Dương Ninh và tôi đã nhiều lần trao đổi - tâm sự với nhau, thậm chí có lần ngồi bên hồ trong công viên Thống nhất. Thậm chí, khoảng năm 1973, mặc dầu đã có nhiều bài được in trên các báo và tạp chí, anh Trần Quốc Vượng vẫn còn chia vui với tôi: kỳ này, tớ có bài lần đầu tiên in trên báo Nhân Dân (thực ra số đó, Anh có hai bài ký hai tên khác nhau). Một kỷ niệm khác, vào khoảng năm 1975 hoặc 1976, anh Vũ Dương Ninh và tôi mời anh Trần Quốc Vượng đi uống cà phê ở khách sạn Phú Gia. Anh Vượng nhận lời, nhưng vừa ngồi vào bàn, anh Vượng hỏi ngay: Vì cớ gì hai ông mời mình đến đây? Tôi đáp: Vừa rồi, báo Thống Nhất (tuần báo của Ban Thống nhất trung ương, có uy tín và giàu chất trí tuệ lúc đó, do nhà báo Nguyễn Minh Vỹ làm chủ nhiệm, ông từng là Phó trưởng đoàn đại biểu VNDCCH tại Hội nghị Paris về Việt Nam) in bài viết chung của hai chúng tôi, họ trả nhuận bút 25 đồng. Bọn tôi "cưa" đôi, mỗi người 10 đồng, còn 5 đồng mời anh đi cà phê. Anh Vượng gật gù nói tiếng Nga với tôi: "Panhắtđờ" (Hiểu rồi). Năm đồng khi đó có giá trị lắm, đủ cà phê, bánh gatô cho ba người và cả Điện Biên bao bạc (cũng xin nói thêm: lương CBGD trong Khoa thời đó phần lớn chỉ ở 3 mức 74, 85 và 100 đồng). Nay anh Vượng đã đi xa, và giờ cũng thật khó có được cái cảnh đạp xe cả chục cây số như anh Ninh từ Mễ Trì ra tận Bờ Hồ để nhâm nhi ly cà phê và chuyện dông dài với nhau…
Để giảng dạy tốt, chúng tôi không ngừng nâng cao chất lượng bài giảng. Riêng tôi cho rằng phải làm sao cho sinh viên hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu. Một chuyện nhỏ. Các giáo trình cũ thường chia thành nhiều giai đoạn nhỏ trong bài về Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô 1921-1941. Tôi đọc thấy khó nhớ và cũng không cần thiết như thế. Tôi viết lại và theo chiều dọc các vấn đề như công nghiệp hoá, tập thể hoá… Kết quả là sau này các giáo trình của nhiều trường đều trình bày theo cách của tôi. Nhưng có trường hợp lại cần thiết phải phân kỳ như đối với bài Phong trào giải phóng dân tộc sau năm 1945 thường trình bày miên man từ cuộc đấu tranh này đến phong trào khác, thật khó nhớ. Cần có cái nhìn khái quát và có điểm nhấn. Có lẽ, tôi là người đầu tiên đã phân kỳ phong trào giải phóng dân tộc, mà tôi đã trình bày trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 9 hiện nay.
Có thể nói một nét nổi bật trong truyền thống của Khoa Sử là hết sức coi trọng việc tìm kiếm và khai thác các tư liệu gốc. Ngày nay nhìn lại, tôi đã có nhiều cố gắng theo hướng đó. Đó là vào năm 1983 trong dịp đi tu nghiệp tại Lêningrát - Liên Xô, tôi đã may mắn và có vinh dự lớn là đã phát hiện và sưu tầm được bản Tham luận của Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ (1924). Tôi đã dịch và giới thiệu trên báo Nhân Dân (28-7-1984), và được đưa vào Hồ Chí Minh - Toàn tập (Tập 1). Tôi còn tiếp tục tìm kiếm và dịch một số văn kiện - tư liệu gốc về lịch sử thế giới. Không kể tới các cơ quan chức năng, có lẽ tôi là người đầu tiên ở ta dịch và giới thiệu với người đọc một số văn kiện như Tuyên bố của ba cường quốc tại Hội nghị Tehran 1-12-1943, Hiệp định của Ba Cường quốc vĩ đại về các vấn đề Viễn Đông tại Hội nghị Yalta 11-2-1945, Văn kiện về đầu hàng quân sự của nước Đức quốc xã 8-5-1945, và Tuyên ngôn về quyền của con người của Liên hợp quốc ngày 10-12-1948. Tôi còn nhớ có chuyện hơi bị "rắc rối" về cái văn kiện cuối cùng mà tôi dịch và đưa vào phần phụ lục cuốn Liên hợp quốc. Bản thảo của tôi được nhà xuất bản Thông tin lý luận đưa lên cán bộ Bộ Ngoại giao đọc. Chuyện đó lúc ấy là bình thường. Trước đó một, hai cuốn của tôi cũng đã như thế. Nhưng một hôm, nhà xuất bản mời tôi đến và đích thân Giám đốc Cao Minh Thành đưa tôi một mảnh giấy của một vị dưới ký H.H.T. với lời lẽ có phần "cảnh giác": Xem lại vì sao lại dịch tuyên ngôn nhân quyền. Tác giả có ý đồ gì? Tôi nói với anh Thành: Muốn chống thì phải hiểu nó nói gì. Tại sao cứ nói tới nhân quyền không ít người ở ta cứ như "đỉa phải vôi". Tôi vẫn nhớ câu cuối, vì đã nói không phải một lần. Anh Thành không nói gì. Chỉ biết sách vẫn xuất bản và vẫn in bản Tuyên ngôn về quyền của con người, và sau đó không có chuyện gì xảy ra. Nhưng có trường hợp tôi bị "thất bại". Năm 1990, tôi hoàn thành đề tài cấp Bộ Mối quan hệ giữa các nước ASEAN và các nước Đông Dương 1967-1990 (có lẽ đây là trong số những công trình đầu tiên ở ta về đề tài này, nếu không muốn nói là đầu tiên). Đề tài được Hội đồng nghiệm thu thông qua xếp loại xuất sắc và được Bộ khen thưởng số tiền kha khá lúc đó - 350 đồng. Tôi lại đưa Nhà xuất bản Thông tin lý luận. Rồi một lần nữa, Giám đốc Cao Minh Thành kêu tôi đến và cũng chìa một mảnh giấy đưa tôi đọc của một vị ở BTHTƯ vẻn vẹn dòng chữ Xem lại có nên xuất bản không, dưới ký ĐTT. Tôi hiểu ngay, vì trong đề tài tôi trình bày các vấn đề theo nhiều chiều khác nhau, cố có được cái nhìn khách quan và chân thực. Tôi đề nghị với anh Thành cho đối thoại trực tiếp để chỉ ra cho tôi chỗ đúng, chỗ sai. Nhưng cuối cùng, tất cả rơi vào im lặng, và sách không ra được (dù không in được, tôi vẫn giữ nguyên, sau này nhiều nghiên cứu sinh vẫn mượn tôi để tham khảo). Có lẽ để an ủi tôi phần nào, tôi được nghe kể: ngay cả cuốn sách về Hội nghị Paris của nhà báo lão thành rất nổi tiếng Nguyễn Thành Lê cũng vào cùng dịp này, vì lý do nào đó cũng còn chưa in ra được (có lẽ để ngầm hiểu - huống chi là tôi!). Cái sự "im lặng" như thế là điều thường thấy ở xứ ta và cũng là nỗi "vất vả" của những người làm lịch sử hiện đại thế giới!
Vào cuối những năm 1980 khi bắt đầu công cuộc đổi mới - mở cửa, tôi và một số anh em trong Bộ môn Sử thế giới đã thấy cần thiết phải tiến hành giảng dạy và nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế. Một lần nữa tôi phải tự học. Có lẽ khoá luận tốt nghiệp đầu tiên về quan hệ quốc tế ở Bộ môn là đề tài về Quan hệ giữa các nước ASEAN và Đông Dương của sinh viên Nguyễn Thị Ngân do tôi hướng dẫn. Có vài chuyện vui về cô sinh viên người Tuyên Quang này. Sau tốt nghiệp một, hai năm gì đó, tôi đọc được một bài viết của em về Cách mạng tháng Mười Nga nhân dịp kỷ niệm mùng 7 tháng 11 trên báo Quân đội nhân dân. Bài viết rất khá, gọn và chững chạc, hơn nữa đàng hoàng trên trang nhất. Em đến nhà tôi ở khu Thành Công cười suốt và kể: Thày biết không, khi em đến nhận báo biếu và nhuận bút, anh thường trực nói: ông Tổng biên tập dặn khi nào em đến phải đưa lên gặp ông. Khi em lên, Tổng biên tập khá ngỡ ngàng, cứ tưởng em phải là một người đứng tuổi, hóa ra lại là một con bé trẻ ranh! Là "gái Tuyên", nhưng da Ngân lại ngăm ngăm nâu. Hình như "ông giời không để ai chịu thiệt", các bạn cùng lớp em kể với tôi: Cơ quan cử Ngân đi học thạc sĩ ở Ấn Độ, em đã lấy chồng người Ấn Độ và ở lại. Mừng cho em. Có lẽ thật thú vị nếu lên một danh sách các cựu sinh viên khoa Sử hiện đang sinh sống hoặc làm việc định cư ở nước ngoài, nhẩm tính sơ sơ đã có ở Pháp, Liên bang Nga, Cộng hòa Séc và Ấn Độ…
3. Trong hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, có lẽ thời kỳ khó khăn nhất của Khoa là những năm 80 của thế kỷ trước. Khi đó, ngoài khó khăn chung của đất nước như "Khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm nay, lạm phát nghiêm trọng, sản xuất bấp bênh, tiền lương không đủ sống…" , tình hình của Khoa lại không ổn định, nhất là sau "Vụ trùng cửu" ngày 9-9-1981, họp hành liên tục, điều tra xét hỏi, một vài anh em lâm vào vòng lao lý. Tâm trạng chung có phần xáo động, có người xin đi khỏi Khoa. Số lượng cán bộ giảm đi phần nào, nhiều cán bộ trẻ có khả năng được cử đi đào tạo ở nước ngoài làm nghiên cứu sinh (khép lại cái thời kỳ "đóng cửa" về khoa học xã hội của chúng tôi trước đây). Chính lúc đó, Ban Giám hiệu nhà trường ĐHTH cử tôi làm Quyền Chủ nhiệm Khoa Sử, thay Chủ nhiệm Khoa Lê Mậu Hãn đi bồi dưỡng ở Liên Xô và Phó chủ nhiệm Hán Văn Khẩn đi học tiếp NCS ở Bungari. Ban Chủ nhiệm Khoa chỉ có tôi và Nguyễn Chí Nguyện. Anh Nguyện phụ trách chính mảng sinh viên và Đoàn Thanh niên. Lúc này, tôi suy nghĩ và xác định có hai nhiệm vụ chính là ổn định đoàn kết toàn Khoa và tìm cách cải thiện đời sống anh em. Tôi nhận thức việc ổn định đoàn kết anh em không thể chỉ bằng lời kêu gọi chung chung mà phải dựa trên chuyên môn - khoa học, thế mạnh của ĐHTH và là nhiệm vụ chính của mỗi cán bộ giảng dạy. Để thực hiện, tôi nghĩ: về trí tuệ - khoa học dứt khoát phải dựa vào bốn vị "Tứ trụ", về lực lượng tiến hành phải trông cậy hoàn toàn vào đội ngũ cán bộ trẻ. Càng triển khai các công việc, tôi càng thấy rõ bốn giáo sư "tứ trụ" đều hết sức nhiệt tình xây dựng Khoa, giúp đỡ tạo điều kiện cho Khoa hoạt động, là vốn quý của Khoa mà nhiều khoa khác không có được, nếu không khai thác sẽ là một sự thiệt thòi lớn. Chính nhờ sự giúp đỡ đó, chỉ trong năm học 1983-1984, Khoa Sử đã tiến hành ba cuộc Hội thảo khoa học có quy mô tương đối lúc đó. Tôi nhờ hai giáo sư Trần Quốc Vượng và Phan Huy Lê chủ trì Hội thảo khoa học về Hà Nội; hai giáo sư Hà Văn Tấn và Phan Đại Doãn cho cuộc Hội thảo về Làng xã Việt Nam (khi chuẩn bị có ý kiến cấp trên nhắc tôi - vì sao các ông không tiến hành xây dựng "Pháo đài cấp Huyện" như một chủ trương lúc đó. Tôi chỉ trả lời: đấy không phải là thế mạnh của Khoa Sử, trong bụng thực ra tôi không thích sự minh họa - thời sự); còn cuộc Hội thảo khoa học Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ do giáo sư Đinh Xuân Lâm chủ trì, sau này cùng Trung tướng Hoàng Phương, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự điều hành trực tiếp cuộc Hội thảo. Cả ba cuộc Hội thảo đều có được kết quả, để lại nhiều ấn tượng. Cuộc hội thảo về Hà Nội coi trọng thực chất, chỉ mời viết báo cáo khoa học khoảng 10 chuyên gia nghiên cứu thực về Hà Nội như các ông Vũ Tuấn Sán, Lê Văn Lan… Có lẽ đây là cuộc hội thảo đầu tiên về Hà Nội và thuật ngữ Hà Nội học mới được nói nhiều tới. Tham gia chủ tọa còn có Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội Vũ Tuấn, là điều hiếm thấy khi đó và chứng tỏ Thành ủy ngày càng quan tâm tới ý kiến giới khoa học về xây dựng Thủ đô. Tại cuộc Hội thảo về Làng xã, giáo sư Hà Văn Tấn có bài "Làng, liên làng và siêu làng" nổi tiếng, mà gần đây tạp chí Xưa & Nay đã in lại sau gần 30 năm cuộc hội thảo. Còn giáo sư Phan Đại Doãn sau này đã viết nhiều bài về Làng xã Việt Nam. Có được ba cuộc hội thảo khoa học chỉ trong một năm vào lúc khó khăn đó, tôi biết ơn sâu sắc Giáo sư Hiệu trưởng Phan Hữu Dật đã hầu như đáp ứng mọi khoản chi tài chính đề nghị của Khoa, bởi lúc đó chưa thu học phí và Khoa không có quỹ riêng, tất cả đều trông cậy vào nhà trường.
Cùng với những cuộc hội thảo trên để lôi cuốn anh chị em trong Khoa vào nghiên cứu khoa học, ổn định tâm tư thì một nhiệm vụ khác có ý nghĩa không kém phần quan trọng là cải thiện đời sống cán bộ, bởi tiền lương không đủ sống. Quả thực chúng tôi loay hoay, lúng túng xung quanh cái gọi lúc bấy giờ là "kế hoạch 3", nhà trường lập ra cả một phòng mới để làm việc này do một CBGD khoa Địa phụ trách (lâu ngày tôi nhớ mang máng là anh Chính). Nguyễn Chí Nguyện, Trần Văn La cùng một vài anh em khoa khác mày mò học cách nấu kẹo mạch nha. Nhiều đêm họ thức suốt bên chảo mật đỏ lửa, nhưng cũng chả ăn thua gì. Lại còn cử người vào Nghệ Tĩnh mua hàng như trứng vịt theo thư giới thiệu của mấy Anh có uy tín với địa phương. Không theo dõi trực tiếp, tôi chỉ nghe nói hàng thì mua được nhưng lại không về đến tay anh em trong Khoa (!). Mọi việc không gắn với chuyên môn rõ ràng là không ổn. Cuối cùng, giáo sư Phan Huy Lê đã giới thiệu cho một việc làm mới phù hợp và nhiều hiệu quả. Đó là việc khảo sát các di tích lịch sử (như các chùa, đền, đình, miếu…) do Sở Văn hóa Hà Nội chủ trì. Riêng Khoa Sử có lực lượng hùng hậu được phân công ở hai quận Hoàn Kiếm và Ba Đình với nhiệm vụ điều tra lập hồ sơ khảo sát, kiến nghị di tích cái nào nên giữ, cái nào nên loại. Mỗi di tích được tính công là 640 đồng, cả hai quận có tới hàng trăm di tích, tất nhiên cuối cùng Sở Văn hóa có kiểm tra đánh giá. Tôi về báo cáo với toàn Khoa, nếu anh chị em đồng ý nhận làm, Khoa sẽ ký hợp đồng. Anh chị em phấn khởi, hoàn toàn đồng ý, bởi việc làm sử dụng được chuyên môn, tiền công như thế không phải là thấp. Cả Khoa "ra quân", chia thành ba tổ do các anh Nguyễn Quang Ngọc, Trần Kim Đỉnh và Lê Ngọc Thắng phụ trách. Ba anh đã giúp tôi rất nhiều, nhất là Nguyễn Quang Ngọc, vì đây không phải là chuyên môn của tôi. Bốn chúng tôi thỏa thuận cùng nhau dân chủ bàn bạc, tài chính công khai. Chúng tôi thường xuyên hội ý… Sau mấy tháng vừa lên lớp, vừa đạp xe đi khảo sát hai quận, anh em đã hoàn thành tốt công việc. Sau này có dịp gặp, các anh Bùi Xuân Lộc - Giám đốc và anh Trần Văn Bạch - Trưởng phòng của Sở Văn hoá đều có nhận xét tốt về việc làm của anh em Khoa Sử. Anh em đã có tiền tiêu, đỡ chật vật hơn. Đến nay, tôi vẫn nhớ vợ chồng Vũ Thị Phụng - Lâm Bá Nam kể với tôi là nhờ đi làm di tích đã mua được chiếc đồng hồ báo thức Liên Xô sau ngày cưới (mà tôi làm chủ hôn). Chiếc đồng hồ không còn dùng nữa, nhưng được giữ lại để kỷ niệm buổi hàn vi cực kỳ khó khăn thiếu thốn. Các bạn trẻ ngày nay cưỡi xe máy, lái ô tô riêng thật khó hình dung nổi ngày ấy. Mặt khác, nhiều người còn làm khá tốt "công tác tôn giáo vận", không ít bữa được nhà chùa mời cơm chay, thậm chí có trường hợp thật hy hữu - sư Nhiên ở một chùa trên Bưởi phải nằm điều trị tại bệnh viện Saint Paul đã nhắn tin cho chú Đỉnh biết vào thăm. Ngay sau khi vào thăm nhà sư nữ này, Trần Kim Đỉnh tủm tỉm cười kể cho tôi hay…
Sau khi công việc khảo sát hoàn thành, tôi rủ Nguyễn Quang Ngọc cùng đến để cảm ơn giáo sư Lê. Sau một lúc chuyện trò, tôi thông báo việc khảo sát và nói với Anh: theo thông lệ, ngoài lời cảm ơn Khoa xin gửi Anh "phần trăm" của người giới thiệu việc làm. Anh Lê cười, thẳng thắn nói ngay: Ông không nói thì mình thắc mắc, nhưng ông đã nói thì mình ủng hộ Khoa và anh em. Trên đường về, tôi bàn với Ngọc kỳ Tết này Khoa phải có cái gì tương đối để chúc Tết thày Lê. Ngọc tán thành và đã giúp tôi thực hiện.
Nhờ những việc làm trên, tình hình Khoa đi dần vào ổn định và có những khởi sắc mới. Sau một năm đảm nhận nhiệm vụ Trường giao, cuối năm 1984 tôi thôi nhiệm Quyền Chủ nhiệm Khoa. Đó là một năm thật sôi động và nhiều sự việc đáng nhớ.
Từ đó đến nay đã nhiều chục năm, nhiều chuyện bây giờ mới kể…
Tháng 8-2011
━━━━━━━━━━━━━━
70 NĂM TRUYỀN THỐNG - MỘT HÀNH TRÌNH, MỘT NIỀM TỰ HÀO
KHOA LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ | 1956-2026
14-15/11/2026 | HẸN NGÀY HỘI NGỘ