15/08/2026
CÁC XU HƯỚNG RA ĐỀ HỌC SINH GIỎI HIỆN NAY
Các bạn thân mến,
Theo kinh nghiệm và quan sát của mình thì khoảng 3 năm lại nay, có 4 xu hướng ra đề học sinh giỏi Văn ở câu nghị luận văn học. Cụ thể như sau:
1. Nhận định lí luận - Giải thích - chứng minh bằng trải nghiệm văn học
2. Nhận định lí luận - Giải thích - Chứng minh bằng phân tích 1 tác phẩm cụ thể.
3. Từ 1 tác phẩm cụ thể - bình luận một nhận định lí luận.
4. Từ 2-3 ngữ liệu - bình luận về một vấn đề lí luận văn học
Chúng ta cùng phân tích so sánh một chút nhé.
Dưới đây là hệ thống 4 dạng đề kèm ví dụ minh họa tiêu biểu:
Dạng 1. Nhận định lí luận - Chứng minh bằng vốn đọc văn học
Đề xuất phát từ một nhận định lí luận văn học, yêu cầu người viết giải thích, bình luận và làm sáng tỏ nhận định bằng việc huy động vốn đọc văn học phong phú. Trọng tâm đánh giá là khả năng hiểu và vận dụng lí luận, kết hợp với năng lực lựa chọn, liên hệ và khái quát từ nhiều tác phẩm thuộc các thể loại, giai đoạn và nền văn học khác nhau.
Ví dụ:
“Văn học là lịch sử của tâm hồn con người.” Anh/chị hãy giải thích và làm sáng tỏ nhận định trên bằng trải nghiệm văn học của mình.
Dạng 2. Nhận định lí luận - Chứng minh bằng một tác phẩm cụ thể
Đề cũng bắt đầu từ một nhận định lí luận, nhưng chỉ yêu cầu phân tích một tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định. Trọng tâm đánh giá không phải ở bề rộng vốn đọc mà ở chiều sâu cảm thụ, khả năng vận dụng lí luận để khám phá, phân tích và chứng minh giá trị của một tác phẩm cụ thể một cách toàn diện, thuyết phục.
Ví dụ:
“Chi tiết nghệ thuật là nơi tập trung ánh sáng của tác phẩm.” Bằng việc phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Dạng 3. Từ tác phẩm cụ thể - Bình luận một nhận định lí luận
Khác với hai dạng trên, đề này lấy một tác phẩm làm điểm xuất phát, từ đó yêu cầu người viết phân tích, khái quát và bình luận một vấn đề lí luận văn học. Trọng tâm đánh giá là năng lực đi từ hiện tượng nghệ thuật đến bản chất lí luận, biết rút ra những kết luận mang tính khái quát sau quá trình phân tích tác phẩm.
Ví dụ:
Từ việc đọc hiểu truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, anh chị hãy bình luận ý kiến: “Văn học chân chính luôn khám phá con người trong những hoàn cảnh thử thách.”
Dạng 4. Từ nhiều ngữ liệu - Bình luận một vấn đề lí luận văn học
Đề cung cấp từ hai đến ba ngữ liệu (thơ, truyện, kí, kịch văn nghị luận…hoặc các đoạn trích khác nhau), yêu cầu người viết đối chiếu, so sánh và tổng hợp để bình luận một vấn đề lí luận văn học. Dạng đề này đánh giá năng lực đọc hiểu liên văn bản, khả năng phát hiện điểm tương đồng và khác biệt giữa các ngữ liệu, từ đó khái quát thành những nhận định có tính lí luận và tư duy nghiên cứu. ( Đề hsg Lớp 9 của tp Hồ Chí Minh năm ngoái)
Ví dụ:
Đọc đoạn trích Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) và Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử). Từ việc cảm nhận ba ngữ liệu trên, anh/chị hãy bình luận ý kiến: “Văn học là hành trình khám phá vẻ đẹp và chiều sâu của con người.”
Về cơ bản thì các đề khác nhau nên cách triển khai bố cục bài văn, mạch dàn ý, cơ cấu ý từng bộ phận cũng có sự khác nhau nhất định.
Hôm nay mình hỗ trợ các bạn triển khai dàn ý dạng đề lí luận - trải nghiệm chung. Muốn triển khai được mô hình đáp án bài này chúng ta cần phải hiểu khái niệm “trải nghiệm văn học” là gì?
Trong nhiều năm gần đây, cụm từ “trải nghiệm văn học” xuất hiện khá phổ biến trong đề thi học sinh giỏi và một số tài liệu bồi dưỡng. Cách diễn đạt này có ưu điểm là nhấn mạnh vai trò của người đọc như một chủ thể tiếp nhận tích cực, không chỉ tái hiện kiến thức mà còn huy động quá trình đọc, cảm thụ, suy ngẫm và tích lũy kinh nghiệm từ các tác phẩm văn học. Theo nghĩa rộng, “trải nghiệm văn học” có thể bao gồm toàn bộ vốn đọc, vốn cảm thụ và những hiểu biết mà người đọc tích lũy trong quá trình tiếp nhận văn học.
Tuy nhiên, xét dưới góc độ thuật ngữ học, “trải nghiệm văn học” vẫn là một khái niệm chưa thật ổn định và chưa xác định rõ nội hàm. Trước hết, từ trải nghiệm thường gắn với những kinh nghiệm trực tiếp trong đời sống, trong khi hoạt động đọc văn học chủ yếu là một quá trình tiếp nhận gián tiếp thông qua văn bản. Vì vậy, cụm từ này dễ tạo cảm giác người viết cần kể lại những trải nghiệm cá nhân hơn là huy động tri thức và vốn đọc văn học. Bên cạnh đó, phạm vi của khái niệm cũng khá mơ hồ: chưa làm rõ liệu “trải nghiệm” chỉ bao gồm các tác phẩm đã đọc, hay còn bao gồm kiến thức lí luận, lịch sử văn học, phim chuyển thể và các hình thức tiếp nhận khác. Chính sự thiếu minh định ấy khiến yêu cầu của đề bài đôi khi chưa thật cụ thể.
Từ góc độ đánh giá năng lực, điều mà các đề thi thực chất hướng tới không phải là “trải nghiệm” theo nghĩa thông thường, mà là khả năng huy động hệ thống tri thức, cảm thụ và vốn đọc để giải quyết một vấn đề nghị luận văn học. Vì vậy, nếu sử dụng trong các tài liệu học thuật hoặc sách bồi dưỡng học sinh giỏi, nên cân nhắc thay thế bằng những cách diễn đạt rõ nghĩa hơn.
Trong đó, cụm từ “vốn đọc văn học” là phương án phù hợp nhất. Khái niệm này vừa ngắn gọn, vừa xác định rõ phạm vi, phản ánh đúng yêu cầu huy động những tác phẩm đã đọc, những hiểu biết lí luận và năng lực cảm thụ để lập luận. Nếu muốn diễn đạt đầy đủ hơn, có thể sử dụng cụm “vốn đọc và hiểu biết văn học” hoặc “vốn đọc, cảm thụ và hiểu biết văn học”, bởi những cách gọi này vừa chính xác về mặt học thuật, vừa hạn chế được sự mơ hồ của thuật ngữ “trải nghiệm văn học”.
Tuy nhiên từ lâu cụm từ này được dùng nhiều quá thành quen. Nên thôi ta tạm chấp nhận vậy. Nói như thế để các bạn hiểu là để làm đc dạng đề này, các bạn phải thể hiện cho giám khảo thấy vốn đọc rộng và sâu của mình/ khả năng cảm thụ tác phẩm của mình/ hiểu biết thực tiễn sáng tác như nào. Các bạn vừa phải điểm qua tác phẩm đông tây kim cổ, đủ các thể loại khác nhau, tác phẩm, tác giả, hiện tượng văn học…vv…Lại vừa phải dừng lại phân tích sâu một số tác phẩm làm điểm nhấn.
Có một sự thật là dạng đề này cho đến nay đã trở nên cũ, k thể hiện được sự đổi mới của đề thi.
Vì nó có mấy vấn đề sau đây:
Không đạt được yêu cầu mục tiêu của chương trình GDPT 2018 - phát triển năng lực đọc hiểu theo đặc trưng thể loại của chương trình
Dễ dẫn đến việc học vẹt học tủ của học sinh. Học sinh khi đi thi chỉ cần học thuộc một số đoạn dẫn chứng về các phương diện, rồi vào phòng thi mang ra ghép vào.
Hs dễ “ăn theo nói leo” viết lại những cảm nhận của ng khác thành trải nghiệm của mình. Ta gọi là trải nghiệm giả. Chúng ta k phân biệt được đó có phải là trải nghiệm đọc của em học sinh ấy hay không, hay là em hs thậm chí k thèm đọc tác phẩm nhưng mà nói rất hay về tác phẩm ấy như đúng rồi. Bởi em đọc bài phân tích của người khác, thậm chí nhờ AI phân tích hộ, học thuộc rồi vào phòng thi chép, kiểu dùng mẹo mực để lấy giải.
Thế nên, theo cá nhân mình và một số chuyên gia mình từng tham khảo ý kiến thì đã đến lúc nên đổi sang kiểu đề mới: Đọc hiểu 1-2 tác phẩm cụ thể, hoàn toàn mới để các em thể hiện đúng năng lực của mình. Hiện nay đề thi Tỉnh nhiều tỉnh đã ra kiểu đề này, đề tốt nghiệp đại trà còn ra kiểu này rồi, năm mới đây đã ra Ptich bài thơ Những chiếc lá đấy thôi. Vậy mà k hiểu sao thi quốc gia vẫn ra đề trải nghiệm chung chung. Không biết năm này có đổi mới hay là vẫn ra lại kiểu đề cũ ấy. Dạy kiểu đề này 20 năm rồi, mình rất hiểu những mặt trái của nó. Mong chờ năm nay Bộ thay đổi để cập nhật xu thế hơn! Rất mong!
Tuy nhiên, sắp bước vào thi chọn đội tuyển quốc gia, các tỉnh hầu hết thi 2 vòng, Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác vẫn cơ cấu hai vòng hai dạng đề để bao quát các khả năng. Mình đồng ý với cách làm đó. Bài đăng này mình hỗ trợ các bạn Mô hình dàn ý kiểu đề này. Còn 3 dạng còn lại, xin phép đăng trong Membership 03 nhé.
NHẬN ĐỊNH LÍ LUẬN - GIẢI THÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHỨNG MINH BẰNG NHỮNG TRẢI NGHIỆM VĂN HỌC CHUNG CHUNG
A. MÔ HÌNH CẤU TRÚC DÀN Ý
I. Mở bài ( ½ trang)
- Dẫn dắt: từ vai trò, ý nghĩa chung của văn học trong đời sống. Mở bài sáng tạo thì đa dạng hơn.
- Giới thiệu nhận định/ý kiến cần bàn luận. Ý kiến có thể được đúc kết trong một câu thơ/ đoạn thơ/ thậm chí là một bài thơ ngắn.
- Đặt vấn đề: Nêu vấn đề và tính cần suy ngẫm của nó; (chưa cần thiết phải khẳng định tầm quan trọng/ý nghĩa/độ đúng đắn của ý kiến)
II. Thân bài
1. Giải thích(⅔ trang)
- Làm rõ khái niệm, thuật ngữ, cặp đối lập, hoặc hình ảnh trong ý kiến.
- Xác định tinh thần, thông điệp cơ bản của nhận định. Tức là phải rút ra đc vấn đề bản chất của ý kiến/ nhận định. Ở đây khẳng định quan điểm về tính đúng đắn của nhận định luôn.
2. Cơ sở lí luận ( Giải thích vì sao nhận định lại đúng, dựa vào những lí thuyết nào) ( 3 trang)
Một số gợi ý như sau:
- Xuất phát từ những lí thuyết nền tảng của văn học
+ Bản chất (phản ánh hiện thực qua lăng kính nghệ sĩ).
+ Chức năng (nhận thức – giáo dục – thẩm mĩ – giải trí – giao tiếp...).
+ Giá trị (tư tưởng, nhân văn, nghệ thuật).
+ Hình thức biểu đạt (ngôn từ, hình tượng, phong cách).
- Tuỳ đề: có thể nhấn vào cơ sở thuộc người sáng tác, người tiếp nhận, hoặc tác phẩm. Đưa dẫn chứng lướt làm rõ hơn lí luận.
( Phần này cần dẫn chứng lướt, k được lí luận suông)
3. Biểu hiện / Triển khai cụ thể( 4 trang chia ra làm 3 luận điểm)
- Từ lí luận chung, soi chiếu vào:
+ Nội dung phản ánh.
+ Phương diện cảm xúc, tư tưởng.
+ Hình thức, thủ pháp nghệ thuật.
+ Tác động/giá trị để lại.
- Lồng ghép phân tích sâu một số dẫn chứng: tác giả, tác phẩm, trào lưu, hiện tượng văn học tiêu biểu. Dẫn chứng k nên trùng nhau.
4. Mở rộng, phản biện( ½ trang)
- Thừa nhận những giới hạn, ngoại lệ, góc nhìn khác.
- Phản biện: nếu xa rời định hướng nhân văn, chân - thiện - mĩ thì không còn là “văn học chân chính”.
- Khẳng định lại: ý kiến mang giá trị định hướng.
5. Bài học / Ý nghĩa (⅔ trang)
- Với người sáng tác: trách nhiệm, thiên chức, quan niệm nghệ thuật đúng đắn.
- Với người tiếp nhận: biết đọc - hiểu - cảm thụ văn học một cách phê phán, nhân văn.
- Với cá nhân: nuôi dưỡng tâm hồn, hướng tới sống đẹp.
III. Kết bài(½ trang)
- Khẳng định lại vấn đề, ý nghĩa nhận định.
- Mở rộng: liên hệ tới vai trò lâu dài, bền vững của văn học với con người và cuộc sống.
Tổng bài văn khoảng: 9-10 trang giấy thi. Khoảng 2,5 tờ giấy thi.
* Mô hình này cần được sử dụng linh hoạt, mang tính đa năng, nghĩa là:
• Nếu đề về thiên chức nhà văn: phần cơ sở lí luận nhấn mạnh người sáng tác.
• Nếu đề về tiếp nhận: chuyển trọng tâm sang người đọc và tác động của văn học.
• Nếu đề về giá trị/ chức năng: xoáy sâu vào nội dung - cảm xúc - nghệ thuật - giá trị.
NHIỀU BẠN LÚNG TÚNG KHÔNG BIẾT TÌM CƠ SỞ LÍ LUẬN NHƯ THẾ NÀO. THÌ TRONG TÀI LIỆU VĂN CHƯƠNG MẠN ĐÀM, BỘ ĐỀ NGHỊ LUẬN LÍ LUẬN VĂN HỌC CÓ ĐẦY ĐỦ CẢ NHÉ. TÀI LIỆU NÀY CHI PHÍ CŨNG TIẾT KIỆM (500k). Các bạn có thể cân nhắc mua sử dụng lâu dài.
Sau đây là một đề minh hoạ trong Bộ đề đó:
Đề 1. Nhà văn đạt giải Nobel Văn học 1958 Boris Pasternark từng quan niệm:
“Văn học là nghệ thuật khám phá một điều gì đó phi thường về những con người bình thường và nói bằng những từ ngữ bình thường một điều gì đó phi thường”
Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học của cá nhân, hãy bàn luận.
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
- Văn học luôn bắt rễ từ những gì chân thực và gần gũi nhất của đời sống nhân sinh để chắt lọc nên những giá trị nhân văn vĩnh cửu. Qua lăng kính của người nghệ sĩ, những số phận tầm thường hay những lát cắt đời thường đều có thể trở thành biểu tượng cho sức mạnh tâm hồn và những tư tưởng lớn lao.
- Nhận định “Văn học là nghệ thuật khám phá một điều gì đó phi thường về những con người bình thường và nói bằng những từ ngữ bình thường một điều gì đó phi thường” của Boris Pasternark phải chăng đã chạm đến bản chất của sáng tạo nghệ thuật về mối quan hệ giữa chất liệu hiện thực và khả năng biểu đạt nghệ thuật trong văn chương?
II. THÂN BÀI
1. Giải thích
- Khám phá điều phi thường từ những con người bình thường:
+ Con người bình thường: Là những cá nhân nhỏ bé, bình dị giữa đời thường; những kiếp người lam lũ, vất vả, không mang tầm vóc anh hùng
+ Điều phi thường: Là vẻ đẹp lấp lánh của nhân cách (lòng vị tha, sức mạnh, ý chí,...) hoặc những quy luật nhân sinh sâu sắc, những chân lý đời sống ẩn giấu sau vẻ ngoài đơn sơ.
=> Văn học tập trung vào việc khám phá chiều sâu tâm hồn thay vì thần thánh hóa đối tượng. Sứ mệnh của nó là phát hiện “vàng mười” trong bụi bặm, tìm thấy cái vĩ đại bên trong cái nhỏ bé.
- Dùng từ ngữ bình thường để nói điều phi thường:
+ Từ ngữ bình thường: Là ngôn ngữ trong sáng, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, là hình thức biểu đạt không cầu kỳ, bóng bẩy.
+ Nói điều phi thường: Là khả năng dùng những chất liệu giản đơn để truyền tải những rung động mãnh liệt, tạo nên sức ám ảnh và sức nặng tư tưởng cho tác phẩm.
=> Khẳng định quyền năng của nghệ thuật ngôn từ: sự tối giản về hình thức nhưng tối đa về sức chứa ý nghĩa. Đỉnh cao của nghệ thuật là sự giản dị mang sức mạnh thức tỉnh.
=> Câu nói khẳng định giá trị cốt lõi của văn học là sự thống nhất giữa đối tượng, ngôn từ và tầm vóc tư tưởng vĩ đại. Một tác phẩm lớn là tác phẩm chạm được vào cái phi thường từ chính những chất liệu bình thường nhất.
2. Bàn luận
2.1 Cơ sở lí luận
- Luận điểm 1: Xuất phát từ đặc trưng đối tượng của văn học - Con người là trung tâm của mọi sự khám phá
- Văn học là nghệ thuật hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm của mọi khám phá và thể hiện. Vì thế, những tác phẩm có giá trị thường bắt nguồn từ chính hiện thực đời sống. Và hiện thực luôn là mảnh đất màu mỡ nhất của văn chương, bởi trong những cảnh ngộ lam lũ, nhỏ bé ấy vẫn ẩn chứa biết bao sức mạnh nội tâm và vẻ đẹp nhân tính cao quý. Cái “phi thường” mà văn học khám phá nằm ở phẩm chất tinh thần, ở khả năng yêu thương, hi sinh và vượt lên hoàn cảnh của họ. Bởi vậy, sứ mệnh của văn học là phát hiện sức mạnh lớn lao trong những điều bình dị, nâng những cuộc đời vô danh trở thành những hình tượng nghệ thuật mang theo hơi thở của thời đại và những giá trị nhân văn bền vững.
- Dẫn chứng:
+ Nhà thờ Đức Bà Paris (Victor Hugo): Nhân vật Quasimodo xuất hiện với diện mạo “bình thường” đến mức dị dạng, bị ruồng bỏ như một “quái vật” dưới đáy xã hội. Thế nhưng, xuyên qua cái vỏ bọc thô kệch ấy, Victor Hugo đã soi thấu một thế giới nội tâm “phi thường” với tình yêu thuần khiết và đức hy sinh cao cả dành cho nàng Esmeralda.
+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài): Nhân vật Mị ban đầu chỉ là một cô gái vùng cao bình thường, sống lặng lẽ trong thân phận con dâu gạt nợ, tưởng chừng như bị tê liệt hoàn toàn ý thức về sự sống. Thế nhưng, đằng sau vẻ cam chịu ấy, Tô Hoài đã khám phá ra một sức sống tiềm tàng “phi thường” - thứ sức mạnh âm ỉ như hòn than dưới lớp tro tàn, chỉ chờ đêm tình mùa xuân và đêm đông cắt dây trói để bùng cháy thành khát vọng tự do mãnh liệt.
- Luận điểm 2: Xuất phát từ phẩm chất và thiên chức của người nghệ sĩ: Con mắt tinh đời và trái tim nhạy cảm
+ Mối quan hệ giữa “cái bình thường” và “cái phi thường” được thiết lập dựa trên khả năng thấu thị của người cầm bút. Nhà văn là người có khả năng nhìn thấy những vỉa quặng giá trị ở nơi mà người khác chỉ thấy lớp bụi mù của đời sống thực dụng. “Cái bình thường” chỉ là lớp vỏ bề ngoài, chính cái nhìn nhân văn và chiều sâu tư tưởng của nhà văn đã nâng tầm thực tại lên mức độ nghệ thuật, làm bừng sáng vẻ đẹp của con người từ những số phận lam lũ.
- Dẫn chứng:
+ Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu): Dưới cái nhìn bề ngoài, người đàn bà hàng chài chỉ là một người phụ nữ xấu xí, cam chịu và khốn khổ vì bị chồng bạo hành. Phải bằng “con mắt tinh đời” và trái tim trĩu nặng suy tư của người nghệ sĩ, Nguyễn Minh Châu mới phát hiện ra vẻ đẹp “cao cả” của lòng vị tha và thấu hiểu lẽ đời: chị chấp nhận bị đánh để giữ gìn mái ấm cho các con. Đó là hạt ngọc ẩn giấu trong cái lam lũ, g*i góc của cuộc đời.
+ Những người khốn khổ (Victor Hugo): Thông qua nhân vật Giăng vân giăng - một tù khổ sai bị xã hội ruồng bỏ, Hugo đã nhìn thấy sức mạnh của sự phục thiện và lòng nhân ái bao la. Giữa một xã hội Pháp đen tối và tàn nhẫn, trái tim người nghệ sĩ đã soi thấu phần “ánh sáng” bên trong kẻ tội đồ, biến một kẻ cùng khổ trở thành biểu tượng của đức hy sinh cao cả nhất.
- Luận điểm 3. Xuất phát từ đặc trưng ngôn từ và chức năng thẩm mỹ: Sự thăng hoa của ngôn từ bình dị
- Văn học thực hiện sứ mệnh của mình thông qua ngôn từ. Nhận định nhấn mạnh việc dùng “từ ngữ bình thường” để nói “điều phi thường” chính là biểu hiện của đỉnh cao nghệ thuật. Ngôn ngữ văn học bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống nhưng đã được thanh lọc và kết tinh. Một tác phẩm lớn là tác phẩm dùng những từ ngữ giản dị nhất để chứa đựng những tư tưởng sâu sắc nhất. Sự giản dị trong ngôn từ giúp văn học dễ dàng chạm đến trái tim độc giả, tạo nên sự đồng cảm. Khi những điều cao cả được chuyển tải bằng tiếng nói mộc mạc, sức lay động và khả năng thức tỉnh tâm hồn của văn chương sẽ đạt hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc.
- Dẫn chứng:
+ Thơ Haiku (Basho): Chỉ với 17 âm tiết và những từ ngữ cực kỳ giản đơn (con ếch, ao cũ, làn sương, ....), Basho đã mở ra cả một thế giới u huyền, tĩnh tại và những suy ngẫm sâu xa về sự vĩnh hằng của vũ trụ. Đây chính là đỉnh cao của nghệ thuật: dùng những từ ngữ tối giản, bình thường nhất để khơi gợi những cảm thức tôn giáo và triết học phi thường.
+ Sang thu (Hữu Thỉnh): Tác giả sử dụng ngôn ngữ thơ rất giản dị với những hình ảnh quen thuộc của đời sống như “hương ổi”, “gió se”, “sương chùng chình”,... Từ những từ ngữ mộc mạc ấy, nhà thơ đã gợi ra khoảnh khắc giao mùa tinh tế của thiên nhiên, đồng thời mở ra những rung cảm sâu xa về sự chuyển mình của đời người trước quy luật thời gian. Chính sự bình dị trong ngôn từ đã làm nên chiều sâu thẩm mỹ và sức gợi lớn cho tác phẩm.
2.2 Biểu hiện
- Văn học khám phá, phát hiện những giá trị nhân văn cao cả ẩn giấu sau vẻ ngoài bình dị, lam lũ của con người: Văn chương có khả năng đi sâu vào những góc khuất của tâm hồn để phát hiện những giá trị nhân văn cao cả. Trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, khi con người bị đẩy vào thế đường cùng, chính là lúc những phẩm chất phi thường được bộc lộ rõ nét nhất. Văn chương đóng vai trò là lăng kính hội tụ, làm bừng sáng những hạt ngọc nhân tính vốn bị che lấp bởi bụi bặm của sự nghèo đói và khổ đau.
+ Dẫn chứng: Ông già và biển cả (Hemingway): Hình ảnh ông lão Santiago hiện lên với vẻ già nua, cô độc giữa biển cả mênh mông, tưởng như thất bại sau những ngày dài không đánh bắt được gì. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh tưởng chừng cùng kiệt ấy, ông lại bộc lộ vẻ đẹp phi thường của ý chí, lòng kiên trì và niềm tin không khuất phục trước số phận. Cuộc chiến bền bỉ với con cá kiếm là sự khẳng định phẩm giá con người trong nghịch cảnh, qua đó làm sáng lên giá trị nhân văn sâu sắc ẩn sau vẻ ngoài tưởng như tầm thường.
- Nghệ thuật nâng tầm những chi tiết đời thường, những khoảnh khắc giản đơn thành những tư tưởng triết học và nhân sinh vĩ đại: Một biểu hiện quan trọng khác của văn học là khả năng tìm thấy cái cao cả trong cái nhỏ bé. Nhà văn không cần dùng đến những sự kiện chấn động hay những biến cố lịch sử lớn lao để nói về cuộc đời. Đôi khi, chỉ qua một hành động, một cử chỉ hay một lát cắt cuộc sống, tác phẩm lại mở ra những suy ngẫm sâu sắc về số phận và quy luật của sự tồn tại.
+ Dẫn chứng: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân): Cảnh cho chữ diễn ra trong một buồng giam tối tăm, ẩm ướt - một không gian bình thường và thậm chí là dơ bẩn. Nhưng chính tại đó, cái đẹp và cái thiện đã thăng hoa, tạo nên một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”, khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, của ánh sáng trước bóng tối.
- Sức mạnh của ngôn từ mộc mạc, gần gũi trong việc truyền tải những rung động thẩm mỹ và tư tưởng sâu sắc: Biểu hiện nghệ thuật đỉnh cao nằm ở khả năng dùng ngôn ngữ đời đời thường để khơi gợi những cảm xúc mãnh liệt. Sự tối giản về hình thức ngôn từ chính là chiếc cầu nối tự nhiên nhất để đưa những ý niệm chân lí thấm sâu vào tâm trí độc giả, khiến những điều “phi thường” trở nên gần gũi, chân thực và có sức lay động bền bỉ.
+ Dẫn chứng: Tanka số 1418 (Hoàng tử Shiki): Hoàng tử Shiki chỉ dùng vẻn vẹn 31 âm tiết với những thi liệu mộc mạc như “thác tuôn”, “dương xỉ”, “xuân đến” để phác họa bức tranh thiên nhiên. Thế nhưng, ẩn sau sự tinh giản ấy là sức mạnh của “Ngôn linh” (Kotodama) mãnh liệt, khi những hình ảnh bình dị đời thường được nâng lên thành cảm thức về sự hồi sinh và vận động của sự sống.
3. Mở rộng - phản đề
- Văn học không chỉ dừng lại ở việc khám phá những con người bình thường. Trên thực tế, văn học vẫn dành một mảnh đất màu mỡ cho những hình tượng phi thường, những anh hùng mang tầm vóc sử thi hoặc những nhân vật kỳ ảo để biểu tượng hóa lý tưởng của cộng đồng. Những nhân vật này không xuất phát từ sự nhỏ bé đời thường nhưng lại có sức mạnh định hướng tư tưởng và khát vọng của cả một dân tộc, một thời đại.
- Việc sử dụng “từ ngữ bình thường” cũng không phải là con đường duy nhất để đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Có những khuynh hướng văn học đề cao sự cách tân ngôn ngữ, sử dụng lối viết cầu kỳ, giàu tính biểu tượng hay các thử nghiệm hình thức mới mẻ. Trong những trường hợp đó, chính sự "phi thường" của ngôn từ lại là phương thức hữu hiệu để đánh thức tư duy và khơi gợi những cảm thức thẩm mỹ độc đáo nơi độc giả.
- Cần lưu ý rằng cái “phi thường” trong văn học chân chính phải luôn bắt rễ từ bản chất nhân tính và quy luật đời thực, tránh rơi vào sự hoang đường giả tạo. Nếu nhà văn chỉ cố tình thổi phồng những điều kỳ lạ mà xa rời chân lý cuộc sống, tác phẩm sẽ trở nên hời hợt. Ngược lại, cái "bình thường" cũng không được đồng nhất với sự tầm thường hay cẩu thả; ngôn ngữ giản dị phải là kết quả của một quá trình chắt lọc công phu của người nghệ sĩ.
4. Bài học sáng tạo và tiếp nhận
- Đối với người sáng tạo: Nhà văn không được phép đứng trên cao để nhìn xuống đời sống, mà phải biết “cúi mình thật thấp để lắng nghe những rung cảm khẽ khàng nhất của nhân sinh. Sáng tạo thực thụ nằm ở “đôi mắt thấu thị” và trái tim trắc ẩn để phát hiện ra vỉa quặng “vàng mười” ẩn sau lớp bụi mờ của những số phận bình dị. Người nghệ sĩ phải không ngừng trau dồi, tôi luyện bản lĩnh chữ nghĩa để đạt đến sự tinh tế trong lối viết giản đơn.
- Đối với người tiếp nhận: Người đọc cần một tâm thế đồng sáng tạo và sự kiên nhẫn để lắng nghe những âm hưởng ẩn sau lớp vỏ chữ nghĩa. Đồng thời độc giả cũng cần nâng cao tầm tiếp nhận, biết thấu cảm với những điều phi thường kín đáo, từ đó bồi đắp cho mình một cái nhìn bao dung và trân trọng hơn đối với mọi cá nhân bình dị trong cuộc sống
III. KẾT BÀI
- Nhận định trên đã xác lập một hệ giá trị cốt lõi cho văn học chân chính: Giá trị của văn học nằm ở khả năng thấu thị vẻ đẹp tiềm ẩn trong những điều giản đơn nhất. Qua lăng kính nghệ thuật, nhà văn đã biến những từ ngữ mộc mạc mang sức nặng của một chân lý, đưa những cuộc đời vô danh trở thành biểu tượng bất diệt cho các giá trị nhân văn bền vững. Ý kiến vừa là kim chỉ nam định hướng cho tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ vừa là thước đo cho chiều sâu cảm thụ của mỗi độc giả.
- Văn học chính là chiếc kính lúp diệu kỳ cho phép ta nhìn thấy cả một thiên hà ẩn chứa bên trong giọt nước đời thường, từ đó đánh thức khả năng trân trọng những vẻ đẹp khuất lấp bằng một đôi mắt khác - đôi mắt của sự thấu hiểu và niềm tin nhân bản. Nhờ đó, con người trở nên sâu sắc hơn trong cảm xúc và vững vàng hơn trong niềm tin vào những hạt ngọc nhân tính vẫn luôn lấp lánh và kiêu hãnh giữa bộn bề cuộc sống
Chúc các bạn ôn thi tốt!
Nguồn: văn chương mạn đàm
TRUNG TÂM LUYỆN THI MAI ANH EDUCATION:
✅ Bổ trợ kiến thức các môn văn hoá (Toán, Văn, Anh...), các khối lớp THCS và THPT (từ khối lớp 6-7-8-9-...-12)
✅ Luyện thi 9 vào 10 THPT
✅ Luyện thi lớp 12 thi TN THPT
✅ Luyện thi ĐGNL (HSA)
--------------------------------------------------
🌆 MAI ANH EDUCATION
Sáng tạo ❤️ Tận tâm ❤️ Vươn tầm
🏫 Trung tâm Luyện thi Mai Anh
- CS1: Số 39 đường Tiên Kha 2, Tiên Dương, Đông Anh, Hà Nội (nay là Phúc Thịnh, Hà Nội)
- CS2: Lô G37 khu đô thị khối phố, đường Lê Hữu Tựu, Nguyên Khê, Đông Anh, Hà Nội (nay là Phúc Thịnh, Hà Nội)
🖼 Fanpage: https://www.facebook.com/maianhEducation
Ⓜ️ https://www.facebook.com/maianh.nguyen.353803
📧 [email protected]
☎️ Hotline: 0936501818