Trường Cao đẳng nghề mỏ hữu nghị - TKV tiền thân là Trường công nhân kỹ thuật mỏ, được thành lập năm 1976, đến năm 2006 được nâng cấp thành Trường cao đẳng nghề mỏ hữu nghị - TKV theo quyết định số 1993/QĐ-LĐTBXH ngày 29/12/2006 của Bộ lao động thương binh và xã hội. Quyết định của Bộ Điện và Than, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, với chức năng và nhiệm vụ chính của trường là :
Chứ
c năng và nhiệm vụ: Trường Cao đẳng nghề mỏ hữu nghị -TKV tổ chức đào tạo công nhân kỹ thuật các ngành nghề có chất lượng cao, đáp ứng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp khai thác than và khoáng sản cũng như các ngành công nghiệp khác theo nhu cầu xã hội. Trường đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề theo 03 cấp trình độ: Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề và Cao đẳng nghề :
Trình độ Sơ cấp nghề : trang bị cho người học năng lực thực hành một nghề được đào tạo, hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Trình độ Trung cấp nghề: trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Trình độ cao đẳng nghề: Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm, có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
2. Năng lực đào tạo:
Theo quyết định số 352/ĐT/TCCB ngày 19/2/1976 của Bộ trưởng Bộ Điện và Than về việc thành lập trường, trường tổ chức đào tạo công nhân 12 ngành nghề phục vụ ngành công nghiệp khai thác than. Theo công văn số 820/TCDN-TCN ngày 14/12/2004 của Tổng cục trưởng TCDN về việc mở thêm ngành nghề đào tạo, Trường tổ chức mở thêm 3 nghề Sửa chữa điện xí nghiệp, điện dân dụng và Hàn . Theo quyết định số 1993/QĐ-LĐTBXH ngày 29/12/2006 của Bộ lao động TB và XH về việc thành lập Trường cao đẳng nghề mỏ hữu nghị, trường sẽ tổ chức tuyển sinh và đào tạo trung cấp các nghề trên và đào tạo cao đẳng cho 6 ngành nghề. Qui mô đào tạo của trường, theo thiết kế ban đầu là 700 đến 800 học sinh/năm. Đến năm 2007 tăng lên 2.500 học sinh/năm. Nhà trường có đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản và phù hợp với ngành nghề đào tạo của trường, được thường xuyên bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, có đủ năng lực tham gia đào tạo từ sơ cấp nghề đến cao đẳng nghề. Nhà học, xưởng thực hành đã được xây dựng theo tiêu chuẩn, có đủ trang thiết bị rèn nghề; Trong quá trình sử dụng thường xuyên được sửa chữa nâng cấp bổ sung các trang thiết bị mới đáp ứng yêu cầu đào tạo .