Khoa Lịch sử, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh

  • Home
  • Vietnam
  • Vinh
  • Khoa Lịch sử, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh

Khoa Lịch sử, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh Đây là fanpage chính thức của Khoa Lịch sử, cung cấp các thông tin chính thức v?

🔥 𝐓𝐎𝐔𝐑 Đ𝐄̂𝐌 “𝐋𝐔̛̉𝐀 𝐗𝐎̂ 𝐕𝐈𝐄̂́𝐓” 𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑙𝑎̣𝑖🗓 Thời gian: Đêm 22/12/2025𝑇𝑟𝑒̂𝑛 𝑚𝑎̉𝑛ℎ đ𝑎̂́𝑡 𝑚𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑇𝑟𝑢𝑛𝑔 đ𝑎̂̀𝑦 𝑛𝑎̆́𝑛𝑔 𝑔𝑖𝑜́, 𝑛𝑜...
17/12/2025

🔥 𝐓𝐎𝐔𝐑 Đ𝐄̂𝐌 “𝐋𝐔̛̉𝐀 𝐗𝐎̂ 𝐕𝐈𝐄̂́𝐓” 𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑙𝑎̣𝑖
🗓 Thời gian: Đêm 22/12/2025

𝑇𝑟𝑒̂𝑛 𝑚𝑎̉𝑛ℎ đ𝑎̂́𝑡 𝑚𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑇𝑟𝑢𝑛𝑔 đ𝑎̂̀𝑦 𝑛𝑎̆́𝑛𝑔 𝑔𝑖𝑜́, 𝑛𝑜̛𝑖 𝑐𝑜𝑛 𝑠𝑜̂𝑛𝑔 𝐿𝑎𝑚 𝑐𝑎̂̀𝑛 𝑚𝑎̂̃𝑛 𝑐ℎ𝑎̉𝑦 𝑞𝑢𝑎 𝑏𝑎𝑜 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑛 đ𝑎̂́𝑡 đ𝑜̉...
𝑅𝑜̂̀𝑖 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑘ℎ𝑜𝑎̉𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑎̆́𝑐, 𝑡𝑢̛̀ 𝑛𝑜̛𝑖 𝑥𝑎 𝑘𝑖𝑎, 𝑡𝑖𝑒̂́𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑜̂́𝑛𝑔 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑛𝑔𝑜̛̀ 𝑣𝑜̣𝑛𝑔 𝑙𝑒̂𝑛...
❤️‍🔥Đó là lúc “𝑳𝒖̛̉𝒂 𝑿𝒐̂ 𝑽𝒊𝒆̂́𝒕” được thắp lên – không chỉ bằng sân khấu, âm thanh, ánh sáng, mà bằng 𝒌𝒚́ 𝒖̛́𝒄, 𝒄𝒂̉𝒎 𝒙𝒖́𝒄 𝒗𝒂̀ 𝒉𝒂̀𝒐 𝒌𝒉𝒊́ 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒖𝒂̂́𝒕 𝒑𝒉𝒖̣𝒄.

🌾 Từ câu Ví, Giặm mộc mạc…
🥁 Đến tiếng trống Xô Viết vang lên từ lòng đất…
🔥 Từ những phận người chân đất bị áp bức…
🚩 Đến khoảnh khắc công – nông kết đoàn, chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời…

💫Tất cả được tái hiện trong chương trình trải nghiệm nghệ thuật – lịch sử đặc biệt về đêm, kết hợp:
❤️‍🔥Trình diễn thực cảnh quy mô lớn
✨Múa đương đại – âm nhạc – ánh sáng – trống hội
📍 Không gian kiến trúc bảo tàng trở thành sân khấu lịch sử sống động

👉 Hẹn gặp quý vị trong đêm 22/12/2025
📣Tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh, để cùng nhau thắp lại ngọn lửa không bao giờ tắt trong lòng dân tộc.

📣 THÔNG BÁO ĐẶC BIỆT: CHIẾU PHIM "MƯA ĐỎ" MIỄN PHÍ TRÊN MÀN HÌNH LỚN!-----🎥🎞️📹-----🇻🇳 Chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày thàn...
17/12/2025

📣 THÔNG BÁO ĐẶC BIỆT: CHIẾU PHIM "MƯA ĐỎ" MIỄN PHÍ TRÊN MÀN HÌNH LỚN!
-----🎥🎞️📹-----

🇻🇳 Chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2025), Quảng trường Hồ Chí Minh phối hợp Trung tâm Văn hóa tỉnh Nghệ An tổ chức buổi chiếu phim lịch sử bom tấn "MƯA ĐỎ"!

📽️ "𝐌𝐮̛𝐚 đ𝐨̉" - Bộ phim điện ảnh xuất sắc về đề tài chiến tranh – cách mạng, do Điện ảnh Quân đội Nhân dân thực hiện. Tái hiện khốc liệt cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 – nơi máu xương đổi bằng từng tấc đất.

🔥 Tác phẩm đã lập nhiều kỷ lục phòng vé, minh chứng cho sức sống của dòng phim lịch sử Việt Nam.

⏰️Thời gian: 19h30’ – Thứ Bảy, ngày 20/12/2025
🎰 Địa điểm: Quảng trường Hồ Chí Minh, phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An.

📣 Kính mời toàn thể Nhân dân và Quý khán giả cùng đến xem phim và lan tỏa tinh thần tự hào dân tộc! 🇻🇳

12/12/2025
Đừng tin những lời chân thật của mấy Anh ngành Lịch sử và Địa lý!Một nữ sinh ngành Văn tâm sự!
04/12/2025

Đừng tin những lời chân thật của mấy Anh ngành Lịch sử và Địa lý!
Một nữ sinh ngành Văn tâm sự!

01/12/2025

Học tập Trải nghiệm: Giảng viên và cái cối xay!

01/12/2025
GS. TRẦN VĂN GIÀU NÓI VỀ NGHỀ DẠY SỬBây giờ tôi nói về nghề dạy sử của tôi. Đây cũng là do tình cờ (par hasard) thôi, vả...
28/11/2025

GS. TRẦN VĂN GIÀU NÓI VỀ NGHỀ DẠY SỬ
Bây giờ tôi nói về nghề dạy sử của tôi. Đây cũng là do tình cờ (par hasard) thôi, vả chăng làm chính trị cũng chính là làm sử.
Tôi nghĩ: ở trên đời không có sách nào, đạo lý nào có tác dụng xây dựng con người bằng sử hết. Sử là cách xây dựng hơn hết. Triết lý có thể xây dựng con người, nhưng nói chung là trừu tượng. Kinh kệ có nhiều cái hay, nhưng lại là việc xa vời, mông lung. Tôi thấy duy có môn sử là môn gắn liền với con người hơn hết, trong đó chính tà, phải quấy, tốt xấu..., các loại người được ghi lại, dựng lên một cách điển hình. Cho nên sử là sự biểu hiện để mình lựa chọn những điều hay dở, tốt xấu, nên chăng…
Theo tôi, giáo dục tư tưởng cho nhân dân ở bất kỳ thời nào, nhất là hiện nay, thì học lịch sử nói chung, lịch sử cách mạng và kháng chiến nói riêng là cách giáo dục tư tưởng sâu xa nhất, cụ thể nhất. Không có quyển Đạo đức (Morale) nào hơn lịch sử, trước hết là lịch sử cách mạng và kháng chiến của mình. Các thứ tốt xấu, mưu trí cao, mưu trí hẹp, mưu trí thiện, mưu trí ác... đều hiển hiện trong lịch sử cả.
Cho nên cái nghề sử - không phải mình làm nghề đó mà khen nó - là môn giáo dục uốn nắn, làm tốt cho con người ta hơn bất kỳ môn học nào. Đương nhiên còn tùy cách người ta viết sử, dạy sử như thế nào, nhưng sử là môn khoa học mà tính giáo dục, tính “trồng người” chắc chắn, sâu sắc nhất, mà lại không chán, rất biến hóa (varié).
Con người vốn rất khác biệt. Con người trong lịch sử lại càng rất khác nhau. Mà học tập qua lịch sử lại dễ dàng, dễ nhớ. Có thể qua lịch sử mà học được biết bao nhiêu chuyện: người làm quan, người làm dân, người làm chính trị đều học được trong lịch sử cả. Có thể giỏi về sử mà không phải thánh hiền, nhưng không có thánh hiền nào dốt về sử.
Học sử có tầm quan trọng như thế cho nên người viết sử, dạy sử phải ý thức về trách nhiệm của mình vì sự thật lịch sử và sự thật viết trong sử nhiều khi không giống nhau. Cho nên nhiệm vụ những thầy giáo sử là không chỉ đề cao mà có lẽ trước hết là phê phán.
Nhiệm vụ thầy giáo nói chung và thầy giáo sử nói riêng là làm cho cuộc sống mỗi người - tuy cũng đều chỉ sống bấy nhiêu thôi - nhưng sống cuộc sống đông đặc hơn người không biết sử. Cũng là bấy nhiêu của cải (một đời người), nhưng người biết sử là người giàu có hơn. Người am hiểu lịch sử, với ý nghĩa đó, là người “đầy đủ” hơn.
- Nguồn: Nguyễn Phan Quang (2011), Giáo sư Trần Văn Giàu - Nghe thầy kể chuyện, tr. 46-48.

28/11/2025

LỊCH SỬ, SỰ THẬT VÀ SỬ HỌC.
GS. Hà Văn Tấn

“Ai ai đều đã bằng câu hết
nước chẳng còn có Sử Ngư”

Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay)

Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nổi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?

Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polibious, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pagmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.

Ơ Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biến” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách đại việt sử ký tục biên : “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”

Một mục đích thực dụng như vậy đặt ra cho sử học tất nhiên đã ngăn cản không ít việc nói lên sự thật của lịch sử. Thường thì người ta chỉ chọn chép những sự kiện nào có lợi cho đường lối chính trị, hoặc làm thay đổi sự kiện cho phù hợp với ý muốn của nhà cầm quyền.

Nhưng ngay trong hàng ngũ các nhà sử học thời cổ cũng đã có người cho rằng cần làm thế nào để phục vụ đời sống và chính trị không làm haị đến thiên chức nói sự thật của nhà sử học. Chẳng những thế, họ còn cho rằng sử có chép đúng sự thật thì mới phục vụ tốt cho đời sống và chính trị. Ciceron ở la mã đã gắn historia magistra vitae(lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới Lus Veritatis (ánh sáng của sự thật. Trong Deoratore, ông đã viết “luật thứ nhất của chép sử là không giám nói cái giả mạo, luật thứ hai là giám nói tất cả những gì là sự thật”.

Còn Lê Quý Đôn của chúng ta, ở đầu tập Đại Việt thông sử, đã dẫn một loạt các câu nói của các nhà sử học đời trước để coi việc chép sử đúng sự thật như một tôn chỉ của việc soạn sử. Và để giữ được tôn chí đó, cuối cùng ông đã chép lại câu của Yết Hề Tư đời Nguyên “ việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc, người có văn mà không biết chép sử thì không thể dự vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết cách soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”.

Từ thế kỷ thứ 17 sử học thế giới đạt đến mẫu mực phê phán, đặt yêu cầu đem lại sự thật quá khứ. Và từ cuối thế kỷ thứ 19, khi sử học đạt đến mẫu mực cấu trúc và biện chứng, các hình ảnh của quá khứ mà sử học khôi phục còn phải được đặt trong cái toàn thể và sự vận động.

Nhưng biết sự thật không dễ, và dám nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này :Muốn viết sử phải biết phương pháp sử học và trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội .

Viết sử là một nghề, nói như người pháp là Métier D Historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Cách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến hai bước cơ bản trong công tác sử học : bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện; bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện.

Ngay từ bước thứ nhất đã có những khả năng dẫn nhà sử học xa rời sự thật, đó là vì sử liệu thiếu, và phổ biến hơn vì sử liệu không được phê phán nghiêm túc. Nguời ta chia sử liệu ra làm hai loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng với sự kiện, chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo điện biên hay văn bản hiệp nghị Paris… là sử liệu trực tiếp. Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua một thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. Ở đây các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu, tức là trước lúc hồi ký được viết nhà sử học Liên Xô M.N.Thernomorski đã viết cả một quyển sách dày, có đầu đề “ hồi ký với tư cách là sử liệu lịch sử” để trình bày các phương pháp để nghiên cứu nguồn sử liệu gián tiếp này.

Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu sử học của chúng ta đã sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp một cách thiếu thận trọng. Sử liệu gián tiếp bao gồm cả những lời kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử đảng thường sử dụng nguồn tài liệu này, những lời kể như vậy thường được phân tích so sánh với các tư liệu khác, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, có thể được trình bày rất khác nhau. Tình hình càng xảy ra là nếu người thông tin là người hiện có uy lực chi phối ở địa phương thì lịch sử sẽ được viết theo cách nhìn nhận của người đó.

Đối với các thời kỳ xa xưa, sự sai lầm càng dễ xảy ra, vì sử liệu càng hiếm hơn, khó kiểm tra hơn. Trong nhiều trường hợp để khôi phục sự kiện nhà sử học phải vận dụng đến sự suy đoán lôgích, và thậm chí cả sự tưởng tượng. Nhưng trong trường hợp sự kiện được trình bày mới chỉ là giả thiết thì điều đó phải được nói rõ, đừng để người khác tin rằng đó là sự thật đích xác. Trong nhiều công trình sử học hiện nay, cái mới chỉ là giả thuyết với cái đã là sự thật, thường bị làm lẫn lộn.

Chẳng hạn không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chiến chống quân Tống ở sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát, cóthể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc đựơc đó là bài thơ của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng cho đến nay, mọi người tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn không ai giám nghi ngờ đó không phải là sự thật.

Ta còn có thể dẫn ra những ví dụ khác về những sự kiện chắc là không thật mà nay nghiễm nhiên là “sự thật”, ngay cả trong giai đoạn lịch sử gần đây.

Các nhà sử học thường chủ yếu dựa vào nguồn sử liệu viết. Mà nước ta, các văn bản sử liệu thường bị biến chuyển ghê gớm. Đó là chưa kể sự xuất hiện những tài liệu giả. Nếu trình bày sự kiện mà dựa vào sử liệu đã bị biến đổi hay sử liệu giả thì hiển nhiên không tránh khỏi những sai lầm.

Chẳng hạn, cuốn Binh thư yếu lược hiện có, được coi là của Trần Hưng Đạo, là một cuốn sách giả từ đầu chí cuối . Các nhà nghiên cứu viện Hán Nôm vừa làm một việc có ý nghĩa là chứng minh được cuốn sách giả mạo đó đã hình thành như thế nào. Thế nhưng khi viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên hay về Trần Hưng Đạo, một số người vẫn dùng cuốn sách giả này. Thậm chí có lãnh tụ đã trích dẫn cuốn sách này trong diễn văn của mình. Đó là lỗi của các nhà sử học, họ đã không thuyết minh đầy đủ khi cho in bản dịch tác phẩm giả mạo này.

Còn các văn bản bị biến đổi, sữa chữa qua các thời kỳ rất nhiều. Thậm chí các văn bản hiện đại. Ngay bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh mà hiện nay các em trong trường phổ thông vẫn học, vẫn trích, cũng đã sai, khác nhiều với văn bản đầu tiên còn được cất giữ ở cục lưu trữ Trung Ương. Các văn kiện khác cũng vậy. Về điểm này cần phải học tập thái độ của Mac và Angghen khi cho xuất bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1872, hai ông viết rằng “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”. Các nhà sử học đòi hỏi phải có một thái độ như vậy đối với các văn kiện lịch sử.

Trên đây là chuyện phê phán sử liệu và miêu tả sự kiện, thực ra sự thật sẽ bị che lấp hay xuyên tạc là ở bước thứ hai, giải thích và đánh giá sự kiện. Đó là vì công việc này phụ thuộc vào mặt chủ quan của nhà sử học như quan điểm, nhận thức và nhân cách. Các nhà sử học chúng ta thường tự coi là người matxit nhưng bệnh thiên lệch lại hay dễ mắc. Mà thiên lệch, cường điệu một cách phiến diện, một mặt nào đó lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm . Vì vậy, nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua.

Trong một thời gian dài, do một động cơ tốt là phải tập trung binh lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà viết sử chỉ chú ý đến các trang sử chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Không chỉ trong các công trình chuyên luận, mà cả trong các bộ thông sử, cũng chỉ tập trung khai thác truyền thống đánh giặc giữ nước. Một nhà sử học Liên Xô khi bình luận một quyển sử Việt Nam do Uỷ Ban Khoa học Xã hội xuất bản đã có một nhân xét thú vị là các bản đồ trong sách, trừ một bản đồ hình thể chung, đều là bản đồ các trận đánh. Trong thời gian qua, hàng loạt các vấn đề kinh tế – xã hội của lịch sử Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ.

Cũng là đề cao truyền thống, chúng ta thường đánh giá một chiều, chỉ nhận thấy cái hay cái tốt, dường như người ta không chấp nhận có truyền thống xấu. Đến nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang cần đánh giá đúng về con người Việt Nam, mà phần lớn là tính cách, khả năng đã được quy định qua lịch sử. Phải phân tích trung thực và khoa học các ưu điểm và nhược điểm của con người Việt Nam, chứ không phải cái gì cũng khen.

Chúng ta đã được đọc cả một cuốn sách dày đề cao truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Nam. Tôi nghĩ truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Namcũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật. Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật. Vả lại, đề cao ông nghè Vũ Hữu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 đã tính đủ số gạch xây tường không thiếu một viên, khi trên thế giới không chỉ châu Au (thời Copernic) mà ở Ả Rập (thời Al Kashi) đã có những công trình toán học cao, thì chỉ là một việc lố bịch.

Rồi người ta lại đề cao cả những truyền thống của làng xã cổ truyền, nhấn mạnh tính dân chủ của nó. Không hiểu vì sao các nhà sử học tự coi mình là Mác xít lại có thái độ “dân tuý” đến như thế. Ngày nay, khi cái cung cách, cái tâm lý “việc làng” đang khoác áo xã hội đi giữa chúng ta, các nhà sử học phải xem xét lại thái độ của mình trong việc đánh giá làng xã cổ truyền. Lịch sử Việt Nam anh hùng thật, vinh quang thật, trình bày nó lúc nào, chỗ nào cũng tốt đẹp cả, rực sáng cả thì quả là không thật. Nhà sử học không chỉ ngâm ngợi những thiên anh hùng ca mà không biết đến những khúc bi ca trong lịch sử.

Cũng thường thiên lệch khi chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử. Con người là cả một hệ thống những mối quan hệ phức tạp, bị quy định bởi các điều kiện xã hội tự nhiện, lịch sử. Thiếu một sự đánh giá xuất phát từ chủ nghĩa lịch sử dường như là căn bệnh chung của chúng ta. Một số người đã chỉ trích các nhân vật lịch sử vì họ không giống ta. Một số lại quá yêu các nhân vật đó, đến chỗ miêu tả tư duy và hành động của họ cứ y như là họ đã được học tập chủ nghĩa Mac- Lênin.

Chúng ta hãy nhớ lời Mac :” khoa học càng vô tư và không thiên vị thì càng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của người công nhân”. Một nền sử học muốn tự biểu hiện là Macxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử, mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan. Cho đến nay nhiều học giả tư sản vẫn nghi ngờ tính khách quan của sử học. Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng:” sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”. Chúng ta phải bác bỏ những luận bằng cách chứng minh rằng nền sử học của chúng ta có khả năng đạt được sự thật khách quan, chứ đừng tiếp tục giúp thêm chứng cứ cho những luận điểm đó

Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử macxít ra đời, khám phá ra cơ chế hoạt động của sự thật phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính nhất thể – năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện quy luật và nhờ đó sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện các chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.

Đã là con người, không phải là ông thánh, thì có lúc đúng lúc sai. Đó là chuyện thường tình. Nhưng thật là không công bằng khi chỉ vì khuyết điểm của thời kỳ này, ta sổ toẹt hết cả công lao của nhân vật đó, khi ở thời kỳ khác, đóng góp của người đó rõ ràng, không thể chối cãi. Nhà sử học Mác xít không thể chấp nhận một thái độ như vậy. Tại sao chúng ta không noi gương Lênin trong việc đánh giá nhân vật như Plê-kha-nốp?.

GS Hà Vãn Tấn
Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.

Lấy thành công và sự trưởng thành của học trò làm "thước đo" cho nghề giáo, cô Trần Thị Lan Anh (SN 1984) - giáo viên Lị...
24/11/2025

Lấy thành công và sự trưởng thành của học trò làm "thước đo" cho nghề giáo, cô Trần Thị Lan Anh (SN 1984) - giáo viên Lịch sử Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách không chỉ trao truyền kiến thức, mà còn là điểm tựa nhân ái, giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn.

"Điểm tựa" đầu tiên
Cô Lan Anh từng lên báo chia sẻ rất nhiều lần, nhưng chưa bao giờ chia sẻ về mình. Trong lần xuất hiện trên báo gần nhất, cách đây hơn 1 tuần, cô Lan Anh chia sẻ về 1 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đó là em Nguyễn Thị Hoài (SN 2007, quê tại xóm Trung Long, xã Xuân Lâm).

Hoài là một học sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Em đỗ đại học với điểm số cao nhưng phải tạm gác lại giấc mơ giảng đường vì không có tiền đóng học phí. Cùng lúc người dì sống cùng em mắc bệnh hiểm nghèo và bản thân em gặp tai nạn nghiêm trọng với gánh nặng chi phí điều trị không hề nhỏ… Câu chuyện của Hoài được cô Lan Anh kết nối với phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An đăng tải và nhận được sự chung tay hỗ trợ, chia sẻ của nhiều cá nhân, đơn vị.

Khi tai nạn xảy ra, người đầu tiên Hoài nghĩ đến và gọi điện thoại để tìm kiếm sự giúp đỡ là cô Lan Anh - giáo viên dạy Lịch sử của em năm cấp 3. Điều đặc biệt là có rất nhiều học sinh cũng như Hoài: Nghĩ đến cô Lan Anh đầu tiên ngay khi cần sự giúp đỡ. Bởi vì các em biết, cô luôn sẵn sàng lắng nghe và tìm mọi cách để hỗ trợ các em.

“Cách đây mấy ngày tôi cũng vừa kết nối với những người bạn là phóng viên của mình để viết bài về một em học sinh nay là sinh viên đại học có hoàn cảnh khó khăn, đứng trước nguy cơ phải bỏ học giữa chừng. Sau khi kết nối với những mối quan hệ của mình, chiều nay đã có một nhà hảo tâm đứng ra nhận hỗ trợ tiền học và sinh hoạt phí cho em học sinh đó hàng tháng. Nghe tin xong, cả cô cả trò mừng quá”, cô giáo Lan Anh thổ lộ, niềm vui lấp lánh trong ánh mắt.

Không chỉ với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trong số những học sinh của mình, cô Lan Anh đặc biệt dành sự lưu tâm đến 2 đối tượng học sinh nữa là học sinh chăm ngoan, học giỏi và học sinh chưa ngoan, chưa giỏi. Nếu như với những học sinh chăm ngoan, cô Lan Anh phát huy tối đa các mối quan hệ để hỗ trợ về chuyên môn, tinh thần, vật chất, giúp các em yên tâm học hành, định hướng nghề nghiệp, phát huy bản thân để sau này cống hiến cho xã hội, thì với những học sinh chưa ngoan, cô Lan Anh phải kiên trì đồng hành, dành thời gian ở bên cạnh các em.

“Hiện nay, học sinh vùng nông thôn có thực trạng các em nghiện tài xỉu, mạng xã hội rất nhiều. Với những trường hợp này, tôi vẫn thường tìm hiểu kỹ rồi đưa bạn ấy về nhà ăn cơm, chăm sóc, tâm sự để các bạn bộc bạch hết. Tôi sẽ vừa chia sẻ, dặn dò phụ huynh, vừa giám sát, động viên học, kèm cặp, phụ đạo miễn phí, định hướng ngành nghề cho nhóm học sinh này. Sự kiên trì, bao dung tôi dành cho các em còn nhiều hơn cả dành cho con mình nữa, và các em ấy đều cảm nhận được hết, đều cố gắng nghe lời cô. Kết quả, rất nhiều em từ chỗ thi thử chỉ 3, 4 điểm, có nguy cơ trượt tốt nghiệp, sau này đã đậu được vào đại học. Những kết quả đó khiến tôi hạnh phúc hơn bất cứ thành tích nào của mình”, cô Lan Anh kể.

Trước khi những học sinh “đặc biệt” của mình nhập học, cô đều tự mình viết thư giới thiệu cho các thầy, cô ở bậc đại học để nhờ quan tâm, tiếp tục dìu dắt các em, gửi gắm các em cho những người thân quen của mình, kết nối để các em xin việc làm sau khi tốt nghiệp đại học. Những mối quan hệ như thầy cô, bạn bè, học sinh cũ… được cô Lan Anh tận dụng tối đa, để dù học sinh của mình có ở đâu, làm gì, vẫn đảm bảo được quan tâm, hỗ trợ.

Những năm làm chủ nhiệm, cô Lan Anh còn tự mình đến tận nhà của tất cả học sinh trong lớp để nắm bắt hoàn cảnh của từng em. Giúp đỡ học sinh nhiều như vậy nhưng cô Lan Anh có một nguyên tắc: Không bao giờ cho học sinh biết ngày sinh nhật của mình. Thay vì nhận những món quà, cô luôn dặn học sinh tri ân thầy cô bằng thái độ, bằng sự biết ơn và nỗ lực cố gắng trong học tập. Khi sống với sự biết ơn, các em mới thành công được và trở thành những người công dân tốt.

Cô Lan Anh nói: “Ai cũng có sứ mệnh và cách làm riêng. Nhưng với tôi, dạy là hướng đến học sinh, lấy sự thành công của các em làm thước đo cho nghề nghiệp của mình. Tôi mong sao xã hội này có thật nhiều những giá trị tốt đẹp và tôi sẽ nỗ lực để những thế hệ học sinh của mình trở thành những điều tốt đẹp đó”.

Không ngừng hoàn thiện và học hỏi
Đây cũng là một trong những tôn chỉ của cô giáo Lan Anh trong công việc và cuộc sống. Cô cho rằng, muốn học sinh chăm học, bản thân giáo viên phải chăm học để làm gương cho các em.

“Khi mình nghiêm túc học tập và luôn cầu thị thì các con của mình, những học sinh của mình mới nghe mình dặn dò, nhắc nhở và dạy bảo. Quan trọng nhất, tôi đi học vì tôi cảm thấy việc được học tập rất hạnh phúc, có thêm nhiều bạn bè mới, thầy cô mới, nhiều kiến thức hay”, cô Lan Anh chia sẻ. Ở thời điểm hiện tại, cô giáo Lịch sử này đang theo học 4 chương trình cùng lúc: Văn bằng 2 tiếng Anh, 1 khóa tiếng Anh giao tiếp, Trung cấp chính trị, chương trình Thạc sĩ Khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh.

Để truyền động lực học tập cho học sinh của mình, rất nhiều tiết học Lịch sử của cô Lan Anh đã lồng ghép giao tiếp bằng tiếng Anh. Dù chỉ mới dừng lại ở mức cơ bản để học sinh có thể hiểu, nhưng như vậy cũng sẽ góp phần giúp các em yêu thích ngoại ngữ và hiểu được tầm quan trọng của ngoại ngữ hiện nay, phù hợp chủ trương sử dụng tiếng Anh trong các môn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Không chỉ vậy, trong những tiết học của mình, cô Lan Anh còn gài cắm nhiều bài học về đối nhân xử thế, kỹ năng sống, định hướng nghề nghiệp… cho học sinh.

Khối lượng công việc giảng dạy, thời gian dành cho học sinh và học tập, gia đình đòi hỏi cô Lan Anh phải sắp xếp thời gian, xây dựng kế hoạch mỗi ngày thật khoa học. Mọi khoảng trồng thời gian đều được lấp đầy. Nhờ thế, dù có thể gọi điện tư vấn hay phát sinh công việc hỗ trợ cho học sinh, cô vẫn không để trễ giờ, quên việc, sót việc hay lỡ kế hoạch. “Tôi cho rằng, tính cách, lựa chọn và phong cách sống của mình được nuôi dưỡng và ảnh hưởng từ gia đình. Ngày xưa, gia đình bố mẹ tôi rất nghèo nhưng luôn sẵn lòng cho đi, bố mẹ tôi thường là người giải hòa, luôn nghĩ cho người khác, nhận thiệt thòi về mình. Bố tôi là bộ đội, ông là người nghiêm khắc và chỉn chu. Sau này, khi đi học, tôi may mắn gặp được những thầy cô tốt nên hình thành ước mơ làm giáo viên và cuối cùng cùng sống trọn vẹn với ước mơ này”, cô Lan Anh chia sẻ.

Chia sẻ về cô giáo của mình, em Nguyễn Thị Phương Như - sinh viên Khoa Sư phạm Lịch Sử, Trường Đại học Vinh thổ lộ: “Trong buổi học đầu tiên của môn Nhập môn Sư phạm, khi giảng viên hỏi lý do vì sao mỗi người lại chọn theo học ngành này, em đã không kìm được mà muốn đứng lên chia sẻ. Trước đây, em từng rất sợ môn Lịch sử - sợ nó khô khan, sợ khó. Nhưng từ khi bước vào cấp 3, được học với cô giáo Trần Thị Lan Anh, em đã có một cái nhìn hoàn toàn khác. Với cách dạy cuốn hút, cách định hướng nhẹ nhàng mà sâu sắc, cô đã khiến những bài học Lịch sử trở nên sống động, khiến em say mê và muốn tìm hiểu sâu hơn về những trang sử hào hùng của cha ông. Chính cô là người đã thắp lên trong em ngọn lửa yêu thích môn Lịch sử, là người truyền cảm hứng để em lựa chọn con đường trở thành giáo viên để một ngày nào đó, em cũng có thể truyền lại niềm đam mê ấy cho thế hệ học trò sau, giống như cô đã từng làm với em. Cô dạy em không chỉ những trang sử vàng son của dân tộc, mà còn dạy em biết sống, biết yêu thương, và biết giữ cho ngọn lửa trong tim mình luôn cháy sáng”.

Với những thành tích và đóng góp của mình, cô giáo Trần Thị Lan Anh là 1 trong 29 giáo viên có thành tích tiêu biểu xuất sắc, được nhận thưởng “Quỹ phát triển tài năng giáo dục” lần thứ 19, năm 2025 của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An.

Theo Bao Nghệ An

Address

Vinh
037

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khoa Lịch sử, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Khoa Lịch sử, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh:

Share